chương 1 của Báo cáo, nhận định các chính sách và biện pháp văn hóa ngày càng hướng tới việc tăng cường chuỗi giá trị, đồng thời ghi nhận một điểm tiến bộ quan trọng mà Công ước đạt được đó là mở rộng phạm vi của chính sách văn hóa sang các lĩnh vực khác ngoài phạm vi phụ trách của Bộ Văn hóa các nước. Năm 2018, Báo cáo toàn cầu lần thứ hai với tên gọi Tái định hình chính sách văn hóa – thúc đẩy sáng tạo để phát triển [142] tiếp tục được xuất bản, trong đó tăng cường đánh giá và giám sát việc thực thi các chính sách văn hóa trên toàn thế giới, từ đó phân tích các diễn biễn và xu hướng đối với các vấn đề mang tính chiến lược như quyền tự do của nghệ sỹ, vấn đề giới, truyền thông đa phương tiện phục vụ mục tiêu công, sáng tạo số… Báo cáo ghi nhận Công ước đã truyền cảm hứng và là cơ sở pháp lý để các nước điều chỉnh chính sách văn hóa phù hợp với những biến động của thời đại, việc thực thi Công ước bước đầu đã có tác động đến quản trị văn hóa theo hướng liên ngành và quá trình hình thành chính sách văn hóa với sự tham gia của nhiều bên liên quan. Tháng 2 năm 2022, Báo cáo toàn cầu lần thứ ba Tái định hình chính sách vì sự sáng tạo – tiếp cận văn hóa như hàng hóa công toàn cầu [143] được công bố, đề cập đến các chính sách và giải pháp mà các chính phủ điều chỉnh nhằm đối phó với các thách thức toàn cầu, đặc biệt là các 15 tác động của đại dịch Covid-19 cũng như xu hướng chính sách văn hóa có sự thích ứng, gắn kết với hệ thống chính sách công đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ Chính phủ, đẩy mạnh phi tập trung, tăng cường vai trò chính quyền địa phương nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững…Báo cáo toàn cầu là những tư liệu đầu vào quan trọng cho nghiên cứu của luận án, đặc biệt là việc áp dụng phương pháp đánh giá tác động của UNESCO trong đó tăng cường sự tham gia của các tổ chức dân sự, bao gồm cả giới nghiên cứu và các chuyên gia vào quá trình xây dựng báo cáo và tham vấn các vấn đề chính sách. Cuốn sách Toàn cầu hóa, Văn hóa và Phát triển: Công ước UNESCO về Đa dạng văn hóa do Christiaan De Beukelaer, Giảng viên trường Đại học Queen Margaret, Vương quốc Anh, Miikka Pyykkönen, Giảng viên Đại học Jyväskylä, Phần Lan và J.
Singh, Giáo sư Đại học George Mason Hoa Kỳ biên soạn, xuất bản năm 2015 là một công trình tập hợp các nghiên cứu đa chiều về Công ước UNESCO 2005, cung cấp cho người đọc hiểu biết khá toàn diện về những vấn đề trọng yếu của Công ước thông qua việc phân tích quá trình toàn cầu hóa văn hóa thể hiện qua các biểu đạt nghệ thuật và các ngành công nghiệp giải trí cũng như những thực tiễn cuộc sống. Thông qua các lý thuyết, phương pháp luận và bằng chứng, công trình đã phân tích những kết quả mà Công ước này mang lại cũng như những thiếu sót và triển vọng chính sách trong tương lai. Cuốn sách khẳng định một thông điệp rõ ràng rằng Công ước 2005 là một công cụ quan trọng và hữu ích trong cuộc tranh luận về đa dạng văn hóa, nhưng chưa đủ để đối mặt với những thách thức lớn về quyền con người và vấn đề phát triển bền vững cũng như khái niệm tổng thể về “đa dạng văn hóa” [85]. Điều này càng khẳng định giới hạn phạm vi mà luận án tập trung nghiên cứu là phù hợp, đó là sự đa dạng văn hóa được biểu hiện trong bối cảnh đương đại qua hàng hóa, dịch vụ văn hóa và các hoạt động văn hóa.
Trong khi công trình trên chỉ tập trung nghiên cứu ở cấp độ toàn cầu, luận án sẽ đi sâu phân tích tác động của Công ước và quá trình toàn cầu hóa văn hóa đến luật pháp, chính sách và thực tiễn của một số quốc gia điển hình, để từ đó rút ra các đề xuất đối với việc phát triển các ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam. Nhóm các công trình nghiên cứu về vai trò Nhà nước trong các mô hình chính sách văn hóa trên thế giới Nội dung nghiên cứu của Luận án là làm rõ vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ và phát huy các biểu đạt văn hóa qua các mô hình chính sách văn hóa, vì vậy luận án sử dụng tài liệu kinh điển xuất bản năm 1989 của Harry Hillman Chartrand & Claire McCaughey, Who’s to pay for the Arts: The international search for models of support (Ai trả tiền cho nghệ thuật: tìm kiếm quốc tế về mô hình hỗ trợ) với 4 mô hình chính sách văn hóa, là nội dung cơ bản mà mọi giáo trình về chính sách văn hóa đều đề cập [78] làm cơ sở phân tích hành động của các Chính phủ trong từng mô hình quản lý văn hóa. Cuốn sách Re-Visioning Arts and Cultural Policy: Current Impasses and Future Directions (Tái định vị Chính sách văn hóa và nghệ thuật: con đường hiện tại và các định hướng tương lai) của Jennifer Craik, xuất bản 2007 [80] thông qua những phân tích lịch sử và phê phán về chính sách văn hóa và nghệ thuật của Australia qua các thời kỳ, đã đề xuất mô hình thứ 5 “nuôi dưỡng giới tinh hoa” bên cạnh 4 mô hình kinh điển về chính sách văn hóa, đồng thời xem xét những công cụ chính sách và tài chính trong hệ thống chính sách công để đề xuất ra giải pháp cho tương lai. Công trình có giá trị dành cho các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử nghệ thuật và các nhà quản lý, gợi mở về khả năng đề xuất các mô hình mới bên cạnh các mô hình CSVH kinh điển.
Tiêu biểu cho các tài liệu xuất bản tại Việt Nam về lĩnh vực này là cuốn sách Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam, của tác giả Nguyễn Văn Tình do Nxb Văn hóa – Thông tin xuất bản năm 2009 [56] đã giới thiệu nhiều mô hình CSVH khác bên cạnh 4 mô hình Người tạo điều kiện, Nhà bảo trợ, Kiến trúc sư, Kỹ sư (Chartrand và McCaughey, 1989), còn có các mô hình Nhà doanh nghiệp, Luật sư và mô hình Nhóm cố vấn (Wyszomirski, 2003), các mô hình cánh tay nối dài – vận động thị trường – nhà tổ chức biểu diễn (Cummings và Katz), mô hình nhà thiết kế - người hưởng lợi – hoàng gia (Mulcahy), Nhóm chuyên gia – quan chức Nhà nước… cũng như chia sẻ các 17 phương pháp, kinh nghiệm xây dựng và thực hiện chính sách văn hóa của một số nước để từ đó đề xuất hoàn thiện CSVH ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tiếp nối xu hướng nghiên cứu này, Luận án đúc rút các thực tiễn tốt từ các mô hình CSVH trong việc thực thi Công ước UNESCO 2005, sử dụng các phương pháp xây dựng, đánh giá chính sách của UNESCO để tiếp tục phát triển các đề xuất, giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy sự lớn mạnh của các ngành CNVH tại Việt Nam, cũng như khuyến nghị một mô hình CSVH cho Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong thời đại Công nghiệp 4. Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu quốc tế trực tuyến về chính sách văn hóa theo khung mô hình báo cáo của Hội đồng châu Âu do các nhà nghiên cứu uy tín viết được công bố trên nền tảng của Compendium Cultural policies & trends https://www.net sẽ cung cấp các tư liệu cơ bản về mô hình chính sách văn hóa các nước được lựa chọn. Trên cơ sở đó, luận án sẽ tiến hành phân tích vai trò của Chính phủ trong các mô hình này, kết hợp với Báo cáo quốc gia thực thi Công ước UNESCO 2005 cập nhật các biện pháp, chính sách bảo vệ và phát huy sự đa dạng văn hóa để từ đó chứng minh vai trò chủ đạo của Chính phủ trong việc kiến tạo môi trường chính sách và hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa quốc gia.
Sự nổi lên của các ngành CNVH trên thế giới đặt ra các câu hỏi về lý thuyết và thực tiễn đối với mô hình CSVH. Một số nghiên cứu quan trọng về quan hệ giữa CNVH và CSVH phải kể đến như nghiên cứu Các ngành công nghiệp văn hóa và chính sách văn hóa của David Hesmondhalgh và Andy Pratt đăng trên Tạp chí nghiên cứu quốc tế về chính sách văn hóa 03/2015 đã phân tích quan hệ giữa các ngành công nghiệp văn hóa và chính sách văn hóa trong bối cảnh lịch sử, tìm hiểu nguyên nhân, cách thức các ngành CNVH trở thành một nội dung quan trọng trong chính sách văn hóa, và phân tích những xung đột về khái niệm, quy mô khi đưa khía cạnh thương mại và công nghiệp vào phạm trù của chính sách văn hóa cũng như những thách thức đặt ra khi nghiên cứu vấn đề này hiện nay. Bài viết đã hệ thống lại, đồng thời đặt ra một loạt vấn đề liên quan đến lý thuyết về chính sách văn hóa 18 và CNVH [98]. Nghiên cứu của Pierre-Michel Menger về Các chính sách văn hóa châu Âu và sự chuyển biến của các ngành công nghiệp văn hóa là một tài liệu tham khảo khá thú vị, đã phác họa tiến trình phát triển qua 4 giai đoạn của chính sách văn hóa công với 2 nội dung trọng tâm là bảo tồn và phát huy di sản, và đưa các ngành CNST trở thành hạt nhân của xã hội tri thức.
Trải qua giai đoạn 1 của chính sách công về văn hóa dựa trên nguyên tắc tính xuất sắc và dân chủ hóa, CSVH tiến sang giai đoạn 2 phi tập trung hóa, rồi chuyển sang giai đoạn 3 điều chỉnh quy mô can thiệp công, mở rộng phạm vi CSVH sang lĩnh vực giải trí, công nghiệp hóa, và cuối cùng là giai đoạn 4 với xu thế đánh giá CSVH dựa trên sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và cân bằng các mục tiêu xã hội về sự đa dạng, khuyến khích mở rộng các ngành CNST. Tác giả cũng đặt vấn đề vai trò ngày càng tăng của các thành phố sẽ trở thành sự thay thế đối với can thiệp của Nhà nước từ chính quyền trung ương trong chính sách văn hóa của các quốc gia [113]. Nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo tại các nước được lựa chọn phân tích Nội dung chủ đạo của Công ước 2005 là vấn đề phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.