CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Các khái niệm - Chính sách Trong một số từ điển tiếng Việt hiện nay có những định nghĩa khác nhau về chính sách, theo hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam trong công trình Từ điển bách khoa Việt Nam tập 1 cho rằng: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.475] Ngoài ra, tác giả Nguyễn Lân trong công trình nghiên cứu Từ điển từ và ngữ Việt Nam cho rằng chính sách là "đường lối, chủ trương của một chính phủ hay một chính đảng"[28, tr. Các học giả trong Ban biên soạn chuyên từ điển New Era với công trình Từ điển Tiếng Việt thì chính sách là "đường lối điều khiển chính trị"[3, tr.
Tác giả Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển tiếng Việt thì cho rằng chính sách là "chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội"[58, tr. Còn tác giả Lương Hồng Quang trong giáo trình Chính sách Văn hóa cho rằng: Chính sách là hệ thống các thể chế, các định hướng, các quy định tạo nên những thực hành của nhà nước vào một đối tượng quản lý nào đó. Công cụ thực hành chính của các chính sách là luật pháp và các phương pháp 16 hành chính; ngân sách và hệ thống thuế. Các dạng tồn tại của chính sách gồm các định hướng mang tính nguyên tắc, các văn bản thể chế, các chính sách đầu tư và thuế, các phương pháp hành chính khác[24, tr.
Như vậy, qua một số khái niệm về chính sách có thể đúc kết rằng, chính sách là chương trình hành động do các nhà quản lý đề ra nhằm để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc thẩm quyền của mình. Chính sách là tập hợp những chủ trương và hành động của chủ thể về một phương diện nào đó, gồm mục tiêu muốn đạt được của chủ thể và cách làm để thực hiện các mục tiêu. - Chính sách văn hóa Chính sách văn hóa là tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa nghệ thuât. (UNESCO) Các chính sách văn hóa có những công cụ khác nhau, gồm: luật pháp và các phương pháp hành chính; ngân sách và hệ thống thuế, trong đó, các bộ luật, luật, văn bản pháp quy; cách thức đầu tư từ ngân sách, hệ thống thuế là những công cụ quan trọng nhất để điều hành sự phát triển văn hóa.
Các chính sách văn hóa đều là các thực hành nhà nước dựa trên các nguồn lực về tài chính, vật lực và nhân lực, trong những điều kiện có thể có của thời điểm đó. Các tổ chức văn hóa dựa vào các nguồn lực này mà triển khai các hoạt động thực thi chính sách. Cũng theo tác giả Lương Hồng Quang: Chính sách văn hóa là một hệ thống các nguyên tắc, các thực hành của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa nhằm phát triển và quản lý thực tiễn đời sống văn hóa theo những quan điểm phát triển và cách thức quản lý riêng, đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện[24, tr. 17 - Đầu tư Theo hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam trong công trình Từ điển bách khoa Việt Nam tập 1 cho rằng: Đầu tư (kinh tế) là bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới, hoặc thực hiện việc hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi cộng đồng.
Có đầu tư sản xuất (xây dựng xí nghiệp, trang bị tư liệu sản xuất để sản xuất ra của cải và đem lại doanh lợi) và đầu tư dịch vụ (xây dựng những cơ sở phục vụ lợi ích công cộng như bệnh viện, trường học, thương mại, du lịch). Thông thường đầu tư là bỏ vốn để tạo ra một tài sản đem lại lợi nhuận, là bỏ vốn vào những giá trị động sản. Nguồn vốn đầu tư lấy ra từ trong lợi nhuận của các đơn vị sản xuất, từ vốn vay ngân hàng hay là từ cấp phát ngân sách; nói chung là từ quỹ tích lũy của tái sản xuất xã hội; không thuộc quỹ tiêu dùng cơ cấu và hiệu quả đầu tư ( tính bằng thời gian thu hồi vốn hoặc bằng bảng tổng kết tài sản hiện hành) quyết định sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý[25, tr. Tác giả Nguyễn Lân trong công trình nghiên cứu Từ điển từ và ngữ Việt Nam cho rằng đầu tư là "bỏ vốn vào một công cuộc kinh doanh"[28, tr.
Theo các học giả trong Ban biên soạn chuyên từ điển New Era với công trình Từ điển Tiếng Việt thì đầu tư là "bỏ tiền vốn ra kinh doanh" [4, tr. Tác giả Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển tiếng Việt thì cho rằng "đầu tư là bỏ vốn để sản xuất, kinh doanh, để được hưởng phần lời lãi"[58, tr. 18 - Chính sách đầu tư Tác giả Lương Hồng Quang trong giáo trình Chính sách Văn hóa đã định nghĩa chính sách đầu tư như sau: Chính sách đầu tư là thể hiện các ưu tiên của Nhà nước thông qua các khoản ngân sách cấp hàng năm, được cơ quan lập pháp cao nhất phê chuẩn là Quốc hội hay Nghị viện, được các cơ quan của chính phủ thi hành. Đặc điểm của loại chính sách này là mang tính thực tiễn, có tác động trực tiếp đến sự phát triển của thực tiễn văn hóa nghệ thuật, đó là một loại chính sách “phi văn bản” nhưng thường được các nhà nước sử dụng như một công cụ hữu hiệu tác động vào đời sống.
Các chính sách đầu tư chịu sự đánh giá của xã hội, thông qua các hoạt động kiểm toán và đánh giá của các tầng lớp xã hội [24, tr. Như vậy, qua khảo cứu các khái niệm về chính sách, chính sách văn hóa và chính sách đầu tư văn hóa có thể thấy, chính sách đầu tư văn hóa xét đến cùng là những định hướng, đường lối, chủ trương của Đảng và nhà nước, của các tổ chức xã hội và nhân dân nhằm thúc đẩy sự phát triển văn hóa trong những bối cảnh, thời kỳ và giai đoạn khác nhau. Đó là những thực hành của nhà nước, của các tổ chức dựa trên các nguồn lực về tài chính, nhân lực, vật lực…Chính sách đầu tư văn hóa là một trong những thành tố trong chính sách phát triển chung của đất nước, nó thúc đẩy sự sáng tạo, bảo đảm tính đa dạng và tham gia bình đẳng của mọi tầng lớp trong xã hội.2 Lý thuyết tiếp cận nghiên cứu Luận văn được tiếp cận theo góc độ quản lý nhà nước về văn hóa.Tiếp cận góc độ này, luận văn sẽ bám vào các vấn đề chính sau: - Xác định chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa: 19 Ở đây chính là xác định chủ thể (cơ quan tổ chức) có thể ban hành và thực hiện các chính sách đầu tư về văn hóa. Đối với luận văn này thì cơ quan tổ chức có thể ban hành và thực hiện chính sách đầu tư về văn hóa gồm: + Đảng cộng sản Việt Nam: được thể hiện trong các văn kiện, các NQ của Đảng liên quan đến lĩnh vực văn hóa; + Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Long thể hiện trong các văn kiện, NQ của tỉnh ủy liên quan đến lĩnh vực văn hóa; + UBND tỉnh thể hiện trong các quyết định, chỉ đạo,các chiến lược, các kế hoạch, các đề án, dự án đầu tư liên quan đến lĩnh vực văn hóa trên cơ sở thực hiện chỉ đạo của tỉnh ủy; + UBND TPVL thể hiện trong các quyết định, chỉ thị, kế hoạch…trên cơ sở thực hiện chỉ đạo của Thành ủy và UBND tỉnh; - Khách thể quản lý nhà nước về văn hóa: Trong luận văn này, đó chính là các lĩnh vực thuộc chính sách đầu tư về văn hóa như: chính sách đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng cho văn hóa; chính sách đầu tư đào tạo nguồn nhân lực cho ngành văn hóa; chính sách đầu tư cho hoạt động văn hóa – thể thao – du lịch; chính sách đầu tư cho công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa - Công cụ để thực hiện công tác quản lý nhà nước về văn hóa Đối với luận văn này,chúng tôi tập trung vào phân tích hệ thống các văn bản pháp qui có liên quan đến chính sách đầu tư văn hóa như: Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI; Nghị quyết 33; Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ X; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Vĩnh Long lần thứ XI; Nghị định số: 98/2010/NĐ-CP, ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa; Thông tư số: 18/2012/TT-BVHTTDL, ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Văn hóa, Thể 20 thao và Du lịch, quy định chi tiết về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; hướng dẫn số: 89/HD-SVHTTDL, ngày 04 tháng 8 năm 2014 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về hướng dẫn thành lập Ban quản lý di tích.2 Tổng quan về chính sách đầu tư cho hoạt động văn hóa của Đảng và nhà nước 1.1 Cơ sở để xây dựng chính sách đầu tư cho hoạt động văn hóa Thực tiễn cho thấy, hiện nay nhu cầu về các hoạt động văn hóa của người dân là rất cao tuy nhiên mức độ đầu tư cho văn hóa hay nói cách khác là các chính sách đầu tư của nhà nước đối với văn hóa còn rất hạn hẹp, trong khi đó nhu cầu văn hóa là một vấn đề quan trọng trong đời sống tinh thần của con người.
Sự hiểu biết về nhu cầu văn hóa của người dân là không đồng đều, phụ thuộc vào vị trí, điều kiện xã hội, giới tính nghề nghiệp, tuổi tác, thậm chí cả sở thích của từng cá thể.