CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI XTIÊNG Ở BÌNH PHƯỚC 1. Lễ hội Từ trước đến này, có nhiều quan điểm, khái niệm về lễ hội của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra, tùy vào cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của mỗi người. Ở ngoài nước, có các nghiên cứu về văn hóa dân gian của Hàn Quốc, Trung Quốc tiếp cận. “Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian/Folklore Hàn Quốc thường dùng từ Chúc tế để chỉ “lễ hội”, theo họ đây là một thuật ngữ khoa học [24, tr28].
Họ cũng cho rằng, lễ hội là một hoạt động riêng của con người. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu Trung Quốc trên cơ sở nghiên cứu các lễ hội ở các miều thờ Thành hoàng ở nước này thì họ gọi hoạt động lễ hội là miếu hội – lễ hội ở Miếu. Ở trong nước, tác giả Hoàng Lương trong cuốn Lễ hội dân gian của các dân tộc thiểu số ở phía bắc trích ý kiến của tác giả Lê Trung Vũ và Nguyễn Hồng Dương trong cuốn Lịch lễ hội thì cho rằng “Lễ hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng” [19, tr11] PGS.TS Nguyễn Hữu Thức cho rằng: “Lễ hội là một hiện tượng xã hội, phản ánh nhu cầu của các tầng lớp nhân dân về một loại hình sinh hoạt văn hóa” [34, tr9] GS.TS Kiều Thu Hoạch cho rằng: Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính tổng hợp, có tỉnh chu kỳ và tính phong tục của một 18 cộng đồng người, vốn đã phát sinh từ thời nguyên thủy xa xưa và phát triển trong suốt diễn trình lịch sử nhân loại cho đến ngày nay. Tác giả Ngọc Lý Hiển có viết “Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: Lễ hội (danh từ) là cuộc vui tổ chức chung có các hoạt động lễ nghi mang tính truyền thống”[31,tr1].
Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tập trung lại đều có đặc điểm chung là tất cả đều cho rằng lễ hội là văn hóa, tồn tại trong không gian và thời gian cụ thể và do con người sáng tạo ra để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của con người. Họ cho rằng lễ hội gồm hai phần là lễ và hội, hai phần nội dung này có quan hệ biện chứng lẫn nhau, thống nhất với nhau về nhiều mặt. Phần “lễ” là phần hoạt động của con người dành cho các đấng bề trên thì phần “hội” chính là những hoạt động do con người tổ chức để đáp ứng nhu cầu thưởng thức, hưởng thụ của người dân đi tham dự lễ hội; Nếu phần lễ là phần có yếu tố nghiêm trang, thiêng liêng và có phần linh thiêng thì phần hội lại là phần gần gũi, vui vẻ, là hoạt động kết nối giữa con người với con người. Phân tích thêm về vấn đề này, thạc sỹ Trần Văn Phục, quyền Giám đốc Trung tâm văn hóa tỉnh Đăk Lăk cho rằng: “Lễ hội gồm hai phần: phần Lễ và phần Hội”.
Trong đó: - Lễ là những nghi thức được tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự kiện có ý nghĩa nào đó. Hội là dịp để vui chơi tổ chức cho đông đảo người dân tham gia, theo phong tục hoặc dịp đặc biệt. - Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng; diễn ra trên một địa bàn dân cư; trong một giới hạn không gian và thời gian nhất định, nhằm nhắc lại một sự kiện nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên, với thần thánh và với con người trong xã hội. 19 Trong các định nghĩa, khái niệm về lễ hội của các nhà nghiên cứu trong nước, đáng chú ý có định nghĩa của TS.
Nguyễn Xuân Hồng, trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh: Lễ hội nói chung là một hình thái văn hóa diễn ra nhân một sự kiện xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong một không gian và thời gian thiêng liêng và bằng những lễ thức trang trọng cùng với các loại hình văn hóa cộng đồng hướng tới sự kiện đó. Như vậy qua khái niệm này, có thể thấy lễ hội trước hết là một hình thái văn hóa, và đã là hình thái văn hóa thì cần bao gồm cả nhiều yếu tố liên quan như: tổ chức, nhận thức và ứng xử. Đối với lễ hội, cần phải có nhận thức đúng đắn và phù hợp từ đó dẫn đến việc tổ chức tốt lễ hội và ứng xử đúng mực với lễ hội truyền thống. Khái niệm trên cũng đã nêu ra nguồn gốc xuất xứ của lễ hội, đó là diễn ra nhân một sự kiện xã hội có ý nghĩa đặc biệt, các yếu tố để hình thành lễ hội và tổ chức lễ hội….
Phục dựng Phục dựng lễ hội là một trong những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa của các cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chúng, người Xtiêng Bình Phước nói riêng. Trước đây đã có một số văn bản trước đây đã đề cập đến vấn đề phục dựng lễ hội, tuy nhiên cách dùng từ có khác đi đôi chút. Thông tư 1854VH/TT của Bộ Văn hóa ngày 20/10/1956 sử dụng từ phục hồi lễ hội để chỉ việc tổ chức lại các lễ hội đã lâu không tổ chức. Tuy nhiên, việc phục hồi lễ hội ở giai đoạn này còn khá hạn chế, văn bản pháp luật này cũng chỉ có hiệu lực đối với vùng Bắc Bộ, bởi do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, miền Nam (trong đó có Bình Phước) đang chịu sự cai trị của chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Cụm từ Phục dựng lễ hội: Là cụm từ được xuất hiện trong những năm đầu thế kỷ XXI và chính thức đi vào văn bản nhà nước năm 2007, trong 20 Quyết định số 125/2007/QĐ-TTg ngày 31/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2006- 2010. Trong Quyết định này có một nội dung ghi “mục tiêu là phục dựng 20 lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” [43]. Đồng thời, cụm từ phục dựng tiếp tục được sử dụng trong các văn bản tiếp theo, trong đó có Quyết định 1211/QĐ-TTg ngày 12/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012- 2015. Trong các văn bản của của tỉnh, của ngành văn hóa tỉnh Bình Phước khi đăng ký, phê duyệt và triển khai thực hiện các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa hằng năm, từ năm 2006 đến 2012 cũng đã sử dụng cụm từ “phục dựng lễ hội”.
Trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo in, báo hình, trên internet.của các nhà nghiên cứu, các cơ quan truyền thông cũng đã sử dụng cụm từ “Phục dựng lễ hội” để nghiên cứu về hoạt động và hiệu quả của công tác phục dựng lễ hội ở các địa phương. Trong cuốn “Số tay công tác Văn hóa, thể thao, du lịch vùng dân tộc thiểu số, miền núi” có đoạn “khôi phục báo tồn có chọn lọc những nghi thức truyền thống, các trò chơi dân gian,.chú trọng khôi phục và tổ chức các lễ hội dân gian giàu bản sắc. Như vậy, khôi phục ở đây một góc độ nào đó có thể hiểu là phục dựng. Cho đến nay, tác giả vẫn chưa tìm được các khái niệm, định nghĩa nào nói về vấn đề phục dựng lễ hội.
Khảo tra các từ điển như Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, từ điển chữ Nôm của đều không giải nghĩa hai từ “phục dựng” với nghĩa phù hợp với thực tế. Khảo tra trong cuốn từ điển Tiếng Việt của tác giả Quang Hùng có giải nghĩa hai chữ “phục” và “dựng” với ý nghĩa tương đối phù hợp, do đó tác giả sử dụng cách giải thích ý nghĩa của từ “phục dựng theo tài liệu này”. Theo đó có thể giải thích từ “phục dựng” theo cách chiết tự và hợp nghĩa như sau: 21 - Phục: có nghĩa là “lại”, “trở lại” [42, tr716]. - Dựng: có nghĩa là “lập” [42, tr282].
Như vậy, có thể khái quát nghĩa của từ “phục dựng” có nghĩa là tổ chức thực hiện lại cái đã có nhưng bị mất, hoặc lâu không thực hiện. Phục dựng lễ hội là khôi phục và tổ chức lại lễ hội đã có nhưng từ lâu không tổ chức trong công đồng. Nói cách khác, về cơ bản, khái niệm phục hồi hay phục dựng lễ hội đều là hoạt động nhằm tổ chức khôi phục lại các lễ hội có giá trị tiêu biểu về lịch sử văn hóa của địa phương và quốc gia nhưng đã từ lâu không được tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân, góp phần vào việc bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc. Tuy nhiên, hoạt động phục dựng là cả một quá trình, một chuỗi các hoạt động có liên quan với nhau nhằm khôi phục, tái hiện lại lễ hội hoàn chỉnh về nội dung và hình thức.
Tạo cơ sở để các cấp các ngành thực hiện công tác bảo tồn di sản văn hóa, bảo tồn lễ hội truyền thống của các cộng đồng cư dân nơi có dự án được thực hiện. Mặc dù cho đến nay chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra khái niệm chính thức về phục dựng lễ hội, tuy nhiên trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến phục dựng lễ hội, nội dung, mục đích và ý nghĩa của việc tổ chức phục dựng lễ hội trong thời gian qua, tác giả hiểu rằng: Phục dựng lễ hội là hoạt động nhằm khôi phục, tổ chức lại lễ hội đã bị mai một với một quy trình nhất định đảm bảo lễ hội được tổ chức một cách khoa học, hiệu quả và duy trì lâu dài trong cộng đồng. Trên thực tế, nhiều lễ hội được tổ chức mang tính phục dựng nhưng một số đơn vị tổ chức không sử dụng từ ngữ “phục dựng” trong quá trình thực hiện. Như vậy làm sao để nhận biết đâu là lễ hội được phục dựng? Đâu là lễ hội được tổ chức lại sau thời gian bị gián đoạn? Từ các định nghĩa khái niệm 22 về lễ hội và những hiểu biết về vấn đề phục dựng lễ hội đã được phân tích nêu trên, cần xác định lễ hội được tổ chức như thế nào được coi là phục dựng, lễ hội nào không phải là phục dựng.
Nói cách khác, trong thực tế trong thời gian qua có nhiều lễ hội được tổ chức lại sau nhiều năm gián đoạn, vậy tiêu chí nào để xác định là lễ hội được phục dựng, lễ hội nào không phải là phục dựng? Làm rõ vấn đề này sẽ giúp cho việc nghiên cứu đạt kết quả tốt hơn.