Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về địa bàn, cộng đồng nghiên cứu. Chương một trình bày cơ sở các lý thuyết nghiên cứu được vận dụng trong luận văn bao gồm các lý thuyết về sinh thái học văn hóa, lý thuyết chức 19 năng, thuyết đặc thù luận lịch sử. Đồng thời, đưa ra các khái niệm, từ khóa liên quan đến chủ đề của luận văn. Tại chương một cũng trình bày về tổng quan về vị trí địa lý, dân cư, kinh tế xã hội của xã Măng Cành, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.
Chương 2: Hệ thống nghi lễ nông nghiệp lúa nước của người Mơ Nâm: Chương hai lý giải nguồn gốc của nền nông nghiệp lúa nước của người Mơ Nâm. Trên cơ sở đó nhận diện hệ thống nghi lễ nông nghiệp của người Mơ Nâm từ khi bắt đầu vụ mùa đến kết thúc. Miêu thuật và xác định những giá trị văn hóa, giá trị nhân văn trong quá trình thực hành nghi lễ. Chương 3: Biến đổi của các nghi lễ nông nghiệp lúa nước của người Mơ Nâm.
Trên cơ sở nghiên cứu thực tế, chương ba xác định những biến đổi và làm rõ những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của các nghi lễ nông nghiệp; chỉ ra những vấn đề trong công tác nghiên cứu văn hóa truyền thống người Mơ Nâm. 20 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN, CỘNG ĐỒNG NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản * Nghi lễ: Để tiếp xúc và cầu khẩn thế giới thần linh, từ thời nguyên thủy, con người đã từng bước tạo nên những nghi lễ và phát triển thành hệ thống. Tylor trong công trình Văn hóa nguyên thuỷ đã dành một chương lớn viết về nghi lễ và lễ nghi.
Theo ông, nghi lễ là: “Phương tiện giao tiếp với những thực thể linh hồn” và: “Tốt nhất có lẽ nên đặt niềm tin vào các thực thể tinh thần (Spirituels) như một định nghĩa tối thiểu về tôn giáo”. Thông qua nghi lễ, những người đang sống ở cõi trần cầu cúng thần linh ở thế giới siêu nhiên những khát vọng cho cuộc đời của mỗi con người. Radugin - một nhà văn hóa học Nga đã nói về nghi lễ như sau: “Nghi lễ xuất hiện trong thần thoại học nhằm thể hiện mối quan hệ hữu hiệu giữa cuộc sống thường ngày với siêu nhiên (linh hồn tổ tiên, thần thánh, ma quỷ, số phận v. Nghi lễ được truyền lại không chỉ trong tôn giáo mà đi vào cả cuộc sống thường ngày, đặc biệt là trong nền văn hóa dân gian truyền thống.
Tại đây, nghi lễ là di tích còn sót lại của thần thoại”. [83] Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến một loại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà với toàn bộ khía cạnh hoạt động của con người. Trong chừng mực nào đó nó chuyển tải các thông điệp địa vị văn hóa và xã hội của các cá nhân, bất kỳ một hành động nào có khía cạnh nghi lễ” [65, tr. Một số nhà nghiên cứu cho rằng nghi lễ có bốn yếu tố chính: 1).
Nghi lễ là một hoạt động xã hội lặp đi lặp lại, 21 gồm một loạt các động tác có tính chất biểu tượng dưới dạng múa, ca hát, lời nói, điệu bộ, thao tác trên một số các đồ vật. Nghi lễ tách riêng khỏi các hoạt động thường ngày trong xã hội; 3). Nghi lễ theo đúng một mô hình nhất định do văn hóa đặt ra; 4). Nghi lễ liên quan đến một số tư tưởng về bản chất cái xấu, cái ác, về quan hệ giữa con người và thế giới thần linh [24, tr.
Trong nghi lễ, hành động hiến tế chính là cách con người dâng lễ vật tới các thế lực siêu nhiên mà con người không thể nhìn thấy với mục đích trông chờ vào sự che chở và bảo vệ của các thần linh. Khi bàn về nghi lễ, Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “Nghi lễ tôn giáo được thực hành thường gắn liền với một thực thể siêu linh hay một thế giới vô hình nào đó liên quan đến niềm tin tôn giáo hoặc do tôn giáo quy định và thường biểu hiện chức năng tâm lý trong đời sống của tín đồ. Nghi lễ có thể dùng để giải tỏa những nỗi bất an của con người ở cuộc sống trần tục, cũng có thể đưa con người đến gần hơn với thế lực siêu nhiêu mà họ tin tưởng” [77, tr. Nguyễn Văn Minh cho rằng nghi lễ “là một tập hợp các yế tố cơ bản gồm hành động, lễ nhạc, cầu khấn, hiến tế, nhịn ăn, định hướng và tẩy uế… mang tính lặp đi lặp lại từ đời này qua đời khác, con người thực hành chúng và mang truyền thống về hiện tại.
Nghi lễ là quá trình xuyên thời gian và không gian theo đúng chu trình của nó. Nghi lễ không chỉ là quá khứ, mà còn là hiện tại và tương lai” [41; tr. 363] Từ những quan niệm về nghi lễ nêu trên, chúng tôi cho rằng, nghi lễ là hành vi của con người bao gồm tập hợp một cách có hệ thống các lễ thức trong một không gian thiêng nhằm biểu hiện niềm tin tín ngưỡng; được thực hiện với tư cách cá nhân hoặc dưới hình thức cộng đồng; nghi lễ tạo điều kiện cho con người liên hệ với đối tượng họ thờ cúng và ngược lại. Qua đó, con người mong muốn nhận được sự phù trợ của đối tượng thờ cúng.
Một số nghi lễ ở dạng thức là mối liên hệ của tập thể đối 22 với đối tượng tin thờ, thông qua các động tác có tính tập thể như múa, ca hát, lời nói, điệu bộ gắn với việc cầu mong, cảm tạ thường đi cùng các trò diễn biểu đạt ước muốn của cộng đồng. Nghi lễ dạng này thường nảy sinh phần hội. Phần hội một mặt vẫn là hành vi mà cộng đồng bày tỏ mong muốn liên hệ với đối tượng tín ngưỡng, mặt khác, cũng là môi trường con người giao lưu, tăng cường tính cố kết cộng đồng. Phần hội trong nghi lễ thường là môi trường thăng hoa của nhiều giá trị văn hóa độc đáo của các tộc người.
Vì vậy, khi nghiên cứu nghi lễ, chúng tôi lưu ý đến những ý nghĩa trong biểu tượng lẫn hành động nghi thức để cử hành nghi lễ; đặt nghi lễ trong mối quan hệ với xã hội văn hóa mà nó nảy sinh, tồn tại và những ảnh hưởng của nó để xem xét. Tóm lại, nghi lễ là một tập hợp các hành vi mang tính thiêng của con người (cá nhân hay tập thể) đã được mã hoá, được thực hiện lập đi lập lại theo một trật tự bắt buộc, nhằm tôn thờ thế lực siêu nhiên của từng cộng đồng cụ thể, được biểu hiện qua việc thờ cúng và gắn bó mật thiết với đời sống tín ngưỡng của người dân. * Nghi lễ nông nghiệp: là toàn bộ những nghi lễ có nội dung phản ánh chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, quy luật của vũ trụ gắn với sản xuất nông nghiệp, chuyển tải các ước nguyện của con người đến các lực lượng siêu nhiên, tạo sức mạnh tinh thần trong liên kết cộng đồng để vượt qua các khủng hoảng trong cuộc sống, tránh được thảm hoạ, thiên tai, hướng đến một mùa bội thu, cộng đồng mạnh khoẻ, đời sống yên ổn, thịnh vượng. * Tín ngưỡng: Trong nguyên ngữ Hán - Việt, “tín ngưỡng” là sự hợp thành từ hai thành tố "tín" và "ngưỡng".
Trong đó, “tín” nghĩa là lòng tin, niềm tin và “ngưỡng” là sự ngưỡng vọng, ngưỡng mộ hướng về một lĩnh vực tâm linh hay một thế lực siêu nhiên. Ở phương Tây, dùng phổ biến thuật ngữ tôn giáo bình dân (popular religion) để biểu đạt các yếu tố tâm linh không mang tính tôn giáo 23 chính thống với giáo lý, kinh kệ và hệ thống tổ chức. Một số nhà nghiên cứu lại sử dụng thuật ngữ tôn giáo sơ khai hay tôn giáo nguyên thủy để chỉ các hình thức tín ngưỡng. Theo Ngô Đức Thịnh (2001), cơ sở của mọi tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên; hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục” hiện hữu mà con người có thể quan sát được.
Ông cũng phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo, khi sử dụng khái niệm tín ngưỡng với tư cách là một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người, của một cộng đồng người nào đó ở một trình độ phát triển cụ thể với hình thức biểu hiện và trình độ tổ chức cụ thể [92, tr. Như vậy, khái niệm tín ngưỡng có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, trong đó có hai luồng quan điểm chủ đạo là: Thứ nhất, cho rằng tín ngưỡng và tôn giáo là đồng nhất, tín ngưỡng là niềm tin, ý thức và đạo đức tôn giáo, là một trong những yếu tố cơ bản tạo thành và không thể tách rời tôn giáo; trong khi quan điểm thứ hai lại cho rằng, tín ngưỡng là hình thức phát triển sớm hơn và sơ khai hơn tôn giáo - tức “tiền tôn giáo” vì chưa đạt đến các trình độ phát triển như những tôn giáo chính thống. Điều 2, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, số 02/2016/QH14) đã giải thích nghĩa của tín ngưỡng như sau: tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị văn hóa, lịch sử, đạo đức xã hội.
Như vậy, hoạt động tín ngưỡng ở đây đã bao gồm cả niềm tin và các 24 nghi thức biểu hiện cho niềm tin đó và cách lý giải của Luật đã phản ánh nội hàm khái niệm tín ngưỡng. Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về tín ngưỡng, nhưng trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi vận dụng quan điểm cho rằng: “Tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào lực lượng siêu nhiên nào đó tác động một cách sâu sắc đến đời sống của con người, được con người tin là có thật và tôn thờ”. * Tín ngưỡng đa thần: Thuyết đa thần là một tín ngưỡng liên quan đến hình thức thờ cúng và sự công nhận nhiều thần linh khác nhau cùng tồn tại trong một vũ trụ quan tôn giáo. Trong đó, mỗi vị thần tiêu biểu cho một sức mạnh, một hiện tượng nhất định của thiên nhiên, xã hội và tâm lý con người.
Ngoài ra, còn có các khái niệm khác liên quan đến nghi lễ nông nghiệp của người Mơ nâm như: văn hóa, văn hóa cổ truyền, bản sắc văn hóa.