Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Quan niệm về tín ngưỡng * Khái niệm Tín ngưỡng là một phương diện quan trọng trong đời sống tinh thần của con người, đồng thời còn là một hiện tượng văn hóa độc đáo, phản ánh được niềm tin, ước vọng của con người từ xưa đến nay. Do vậy, tín ngưỡng nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở nhiều chuyên ngành khác nhau như văn hóa dân gian, tôn giáo học, nhân học… Ở mỗi chuyên ngành, do có cách tiếp cận riêng, nên việc hiểu khái niệm tín ngưỡng cũng chưa thống nhất với nhau. Từ điển tiếng Việt giải thích tín ngưỡng là: “Lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo”, tức là tín ngưỡng chỉ tồn tại trong một tôn giáo [62, tr 1646].
Theo giải thích của Đào Duy Anh, tín ngưỡng là: “lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [1, tr. Theo Ngô Đức Thịnh: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, nó đọc lập với cái “trần tục”,hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tôn giáo, tức là niềm tin vào “cái thiêng”. Do vậy niềm tin về cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó ra đời và tồn tại cùng với con người và loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội, đời sống tinh thần – tư tưởng đời sống tình cảm…” [44] Trần Ngọc Thêm cho rằng tín ngưỡng thuộc về văn hóa tổ chức đời sống cá nhân: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng.
Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục). Khi đời sống và trình 18 độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng). Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng. Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường… tín ngưỡng trở thành tôn giáo.
Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó - mới có những mầm mống của những tôn giáo như thế - đó là Ông Bà, đạo Mẫu [49, tr. Luận văn chủ yếu kế thừa các quan điểm nghiên cứu về tín ngưỡng của các nhà khoa học đi trước để tìm kiếm các giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ danh nhân, nói theo tác giả Nguyễn Hữu Thông: “Dù hiểu trên góc độ nào, tín ngưỡng - tôn giáo vẫn là một hình thái ý thức xã hội, cũng là một nhu cầu của xã hội. Và một khi những nhu cầu ấy chưa được những hình thái khác của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội, tín ngưỡng - tôn giáo vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm lý” [51, tr. Hoặc nói theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO): “Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia cần có tự hào về quá khứ của mình để bảo vệ và phát triển văn hóa của mình vào kho tàng văn hóa nhân loại.
Sự đa dạng trong tín ngưỡng, tức niềm tin tín ngưỡng, biểu hiện rất khác nhau, xuyên qua không gian và thời gian, phụ thuộc hoàn cảnh địa lý - lịch sử của từng quốc gia, từng dân tộc” [59, tr. Như vậy, theo tác giả luận văn hiểu tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin và cách thức thể hiện đức tin của con người đối với những hiện tượng tự nhiên hay xã hội; nhân vật lịch sử hay huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của họ nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ phụng. Khi tìm hiểu về tín ngưỡng không thể không nhắc đến nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng. Theo nhiều nhà nghiên cứu, tín ngưỡng có 2 nguồn gốc cơ bản: nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lí.
19 Nguồn gốc nhận thức: Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan. Nhờ có nhận thức con người mới có ý thức về thế giới. Ý thức về cơ bản là kết quả của quá trình nhận thức thế giới của con người. Con người không lý giải được các hiện tượng tự nhiên nên thần thánh hóa nó.
Từ đó sợ hãi, thờ cúng để được yên lành, được chở che. Mặt khác, con người tin rằng có một thế giới khác sau khi chết nên người sống cần phải thờ cúng. Nguồn gốc tâm lý: Tín ngưỡng ra đời trên cơ sở của tâm lý, tình cảm con người và cộng đồng người trong xã hội. Trong cuộc sống con người, có những trạng thái tâm lý khác nhau: như bất hạnh, sợ hãi, chán nản.
con người dần hình thành tín ngưỡng để mong được sự chở che, phù hộ, an ủi. Trong cuộc sống hàng ngày, con người không chỉ tiếp xúc với cái hiện hữu mà còn phải tiếp xúc với vô số những cái vô hình, trừu tượng, không thể lý giải được bằng lý trí mà chỉ có thể cảm nhận được từ tâm thức, linh cảm. Trong thế giới của tam thức và linh cảm đó, chỉ có niềm tin vào sự hiện tồn và cứu giúp của các vị thần mà con người tôn thờ mới có thể giúp họ lý giải, đứng vững và vượt qua những bất trắc trong hiện thực cuộc sống. Đồng thời với những trạng thái hân hoan vui sướng, mãn nguyện, lòng thành kính, sự tự hào, thăng hoa.
trong những cung bậc của cuộc sống đôi khi của là nguyên nhân hình thành tín ngưỡng. Vì sự thành đạt, may mắn, hạnh phúc, trong cuộc sống đôi khi lại được hiểu là do thần thánh ban cho. Trong các lễ hội tín ngưỡng, bên cạnh nghi lễ thiêng liêng là phần hội vui vẽ. Tâm lý hồ hởi, tự giác trong việc tham gia các lễ hội tín ngưỡng cũng là một trong những điều kiện hình thành tín ngưỡng.
Ngoài ra không thể không nhắc đến các yếu tố như thói quen, truyền thống, phong tục, tập quán cũng là những yếu tố dẫn đến sự hình thành và phát triển tình cảm và niềm tin tín ngưỡng. 20 * Tín ngưỡng và tôn giáo Về phạm vi: Tín ngưỡng, theo nghĩa rộng bao hàm trong nó có tôn giáo, theo nghĩa hẹp (niềm tin) là một bộ phận cấu thành tôn giáo. Tín ngưỡng rộng hơn tôn giáo vì tôn giáo nào cũng có tín ngưỡng, song không phải mọi tín ngưỡng đều là tôn giáo. Tôn giáo phải có đầy đủ: Giáo chủ, giáo lý, giáo luật và tín đồ.
Trong khi đó các loại hình tín ngưỡng: thờ cúng tổ tiên, thờ thần thành hoàng, thờ mẫu. đều không có hoặc thể hiện một cách mờ nhạt những đặc trưng cơ bản vừa kể trên của tôn giáo. Về tổ chức: Tôn giáo được hình thành và tồn tại trên cơ sở lý luận chặt chẽ, có giáo lý, giáo luật rõ ràng, kinh sách đồ sộ, với những quan niệm về nhân sinh quan, giải thoát luận, những luận giải, để chứng minh cho sự đúng đắn của niềm tin tôn giáo. Trong khi đó, tín ngưỡng thường là sự phản ánh đời sống thực tế một cách trực tiếp, mang tính dân gian đời thường; hình thức thể hiện khá đơn giản: một bài văn tế (cúng thần thành hoáng) hay một bài khấn (thờ tổ tiên).
Về thiết chế: Các tôn giáo đều có giáo sĩ hành đạo chuyên nghiệp được đào tạo bài bản và hành nghề suốt đời, đối với tín ngưỡng dân gian thì làm theo kinh nghiệm, không có ai làm một cách chuyên nghiệp. Đối với tín đồ tôn giáo, một người trong một thời điểm cụ thể, chỉ có thể có một tôn giáo, nhưng một người dân bình thường có thể sinh hoạt đồng thời nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau (vừa thờ cúng tổ tiên, vừa thờ thành hoàng bổn cảnh). Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo (nay là Luật Tôn giáo, Tín ngưỡng – 2016) của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 4/2004) đã phân biệt và quy định rõ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo như sau: - Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội; 21 - Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng, bao gồm đình đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ và các cơ sở tương tự khác; - Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận; - Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi quản lý tổ chức của tôn giáo; - Cơ sở tôn giáo là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận; - Tín đồ là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận [56, tr 97]. * Phân loại tín ngưỡng Trong các công trình khoa học, nhiều nhà nghiên cứu đã hệ thống các loại tín ngưỡng và chia tín ngưỡng thành nhiều nhóm.
Ngô Đức Thịnh chia các hình thức tín ngưỡng như sau: Thứ nhất, thờ cúng tổ tiên (gia tộc, dòng họ, quốc gia), tô tem giáo. Thứ hai, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng: Ông chia thành hoàng ra làm hai loại lớn: (thành hoàng có nguồn gốc nhiên thần (tức nguồn gốc tự nhiên); thành hoàng có nguồn gốc nhân thần. Mỗi loại được chia nhỏ ra, trong đó thành hoàng có nguồn gốc nhân thần chiếm số lượng lớn nhất trong các loại thành hoàng kể trên, tùy theo công tích và vị thế xã hội, nguồn gốc mà có thể phân chia thành các tiểu loại sau: thành hoàng là các nhân vật lịch sử; thành hoàng là các danh nhân văn hóa; thành hoàng là người khai phá lập làng (tiền hiền, hậu hiền); thành hoàng là người hiền sĩ có công mở mang dân trí; thành hoàng là người ngoại bang; thành hoàng là người chết vào giờ thiêng.