Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản Bản sắc (Tiếng Anh: identity) từ góc độ tâm lý học xã hội, xã hội học và nhân học là khái niệm và nhận thức của một cá thể về ba đối tượng: chính cá thể đó (nhận đồng cá nhân), cá thể khác hoặc một nhóm xã hội (ví dụ như nhận đồng quốc gia, nhận đồng văn hóa và thường được gọi là màu cờ sắc áo). Bản sắc dưới góc độ tâm lý xã hội liên quan đến các khái niệm hình ảnh cá nhân (hình mẫu tinh thần của một người về chính họ), tự tin cá nhân và bản thể cá nhân. Từ đó, Peter Weinreich, giáo sư Tâm lý học, đại học Ulster, định nghĩa: “Bản sắc của một cá thể là tổng thể của phân giải cá nhân, qua đó cách mà cá thể phân giải chính mình ở hiện tại được tiếp tục từ cách cá thể phân giải chính mình trong quá khứ, cũng như truyền cảm hứng cho tiến trình phân giải chính mình trong tương lai”.
Định nghĩa này cho phép ta định nghĩa các khái niệm liên quan đến bản sắc, ví dụ như: “Bản sắc tộc người (ethnic identity) được định nghĩa như một phần của tổng thể phân giải cá nhân trên một số phương diện thể hiện sự tiếp nối giữa một phân giải cá nhân của tổ tiên trong quá khứ và một phân giải cá nhân trong tương lai có liên quan đến tộc người đó”. (Peter Weinreich, 1986) Theo nghĩa từ điển (Hán Việt), bản sắc được giải thich như sau: bản là gốc, cái thuộc về phần mình, gốc đầu mọi việc; sắc là màu, vẻ, dung mạo. Bản sắc còn có một nghĩa khác là tính chất đặc biệt vốn có. Trong tiếng Anh, bản sắc là identity có nghĩa là đồng nhất.
Sự đồng nhất hoá làm nên bản sắc của một đối tượng. Với những nét nghĩa nêu trên, chắc chắn sẽ đưa đến nhiều cách giải thích khác nhau về cụm từ “bản sắc văn hoá”. 14 Bản sắc văn hóa (Tiếng Anh: cultural identity) là bản thể hay cảm giác thuộc về một nhóm nào đó. Nó là một phần của khái niệm về bản thân và nhận thức về bản thân của một người, và có liên quan đến quốc tịch, sắc tộc, tôn giáo, giai cấp xã hội, thế hệ, địa phương hay bất cứ loại nhóm xã hội nào có văn hóa riêng biệt.
Bản sắc văn hóa đặc trưng cho cả cá nhân và nhóm đồng nhất về văn hóa với các thành viên có chung bản sắc văn hóa. Chính vì vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đã và đang được nhiều quốc gia dân tộc coi trọng và có những giải pháp cụ thể trong quá trình phát triển. Giá trị văn hóa: Trong báo cáo tại Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập do Đề tài KX.14/06-10 (Chương trình KX.03/06-10) và Khoa Văn hóa học (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) tổ chức ngày 17-17/9/2009 tại Biên Hòa (Đồng Nai), với nội dung: Một số vấn đề lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội nhập, GS. TS Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Giá trị văn hoá (Cultural Value) do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hoá đã hình thành thì nó lại có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội ấy.
Nó chính là một thứ vốn xã hội (Social Capital)(Ngô Đức Thịnh, 2008). Như thế, khi nói bản chất của giá trị hay nói tới vai trò định hướng, chi phối, điều tiết của hệ giá trị thì về thực chất chúng ta đang nói tới mối quan hệ đa chiều của con 15 người. Cũng như văn hoá, giá trị được sản sinh từ các mối quan hệ con người với tự nhiên, với xã hội. Cồng chiêng của người Jrai: Theo Rơmah Del (Rơmah, 1986), người Jrai ở huyện Ayun Pa, Krông Pa, Phú Nhơn gọi cồng chiêng một ching, và nếu trọn một bộ họ cũng gọi ching.
Còn người Jrai ở huyện Chư Prông, Chư Păh và một số nơi khác thì gọi khác hẳn. Bộ cồng gồm ba cái hoặc sáu cái (ania, mung, mong) dùng để đệm họ gọi một chêng. Loại này thì có núm. Còn loại bằng, không có núm gồm có 9 hoặc 15 cái (có ba cái chủ chốt là: bơ\t, pơyơng, đuôl) dùng để thực hiện giai điệu.
Nếu trọn một bộ đầy đủ gồm 16 cái thì gọi là "Ching chêng" ứng với danh từ "chiêng cồng" theo cách gọi của người Kinh gọi. Còn Rơ Châm Yơn (Rơ, 1981) lại cho rằng: người Jrai phân biệt, bộ chiêng trum là bộ chiêng chính dùng trong lễ đâm trâu; có bộ chiêng mnhum dùng trong lễ tiệc vui, có bộ chiêng arap dùng trong lễ bỏ nhà mồ… Đây là tiêu chuẩn chính để đặt tên các bộ chiêng. Tuy nhiên, tùy theo mỗi nhóm địa phương, ý nghĩa của tên các bộ chiêng lại không hoàn toàn giống nhau. Chẳng hạn bộ chiêng trum của người Mthur vùng Krông Pa thì lại còn được dùng cả trong lễ bỏ nhà mồ nữa.
Nghệ nhân: Theo từ điển tiếng Việt, nghệ nhân là một danh từ chỉ người chuyên nghề biểu diễn một bộ môn nghệ thuật hoặc chuyên làm một nghề thủ công mĩ nghệ có tài nghệ cao. Để vinh danh và trân trọng những cống hiến mà các nghệ nhân đã cống hiến cho văn hóa nước nhà, chính phủ đã ban hành văn bản công nhân Nghệ nhân nhân dân và Nghệ nhân ưu tú, như là một sự động viên khích lệ bên cạnh đó còn là việc lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống đặc biệt. Tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể được quy định tại Điều 6 Nghị định 62/2014/NĐ-CP quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân” và “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể. 16 Nghệ nhân chỉnh chiêng: Nghệ nhân chỉnh chiêng hay người điều khiển giàn chiêng là nhạc công giỏi, có khả năng thẩm âm, biết phát hiện và chỉnh sửa thanh âm lạc điệu của từng chiêng để đạt được âm thanh chuẩn của cả giàn chiêng.
Nghệ nhân chỉnh chiêng không chỉnh âm cho các chiếc chiêng sai âm, mà còn chỉnh âm cho các giàn chiêng mới. Nghệ nhân chỉnh chiêng được coi là báu vật dân gian sống, bao hàm tính truyền thống và tính khoa học. Một trong những yếu tố quan trọng của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói chung, của dân tộc Jrai ở tỉnh Gia Lai nói riêng, là vai trò của những Một trong những yếu tố quan trọng của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói chung, của dân tộc Jrai ở tỉnh Gia Lai nói riêng, là vai trò của những người thợ chỉnh chiêng, hay nói như cách nói của đồng bào là những người "lên dây chiêng". Tuy nhiên những người thợ có khả năng chỉnh sửa mang lại những âm thanh “chuẩn” cho các bộ chiêng Jrai không nhiều và thường được “cha truyền con nối”.
Vì vậy, môi trường truyền dạy chỉnh sửa cồng chiêng truyền thống cũng là môi trường cộng đồng. Ví dụ như trường hợp của gia đình Siu Ngin. Đầu những năm 60 của thế kỷ XX, ông Siu Ngin (1912-2004), dân tộc Jrai, tên thường gọi là ama H'num lúc đó ở buôn Sô Ama Mơlơng, xã Ia Piar, tỉnh Phú Bổn (nay là xã Chrôh Pnan, huyện Phú Thiện) thường lên nhà ông Alích ở quận lỵ Lệ Trung (nay là Đak Đoa) lại mua những "lá" chiêng do Alích mua của người Kinh. Sau khi mua những "lá" chiêng này về, Alích gò chỉnh lại âm thanh theo yêu cầu thang âm của các dân tộc rồi bán cho người Jrai, Bahnar trong vùng.
Sau nhiều lần lên mua chiêng và học được nghề chỉnh chiêng từ ông Alích, Siu Nghin đã tự đi mua chiêng trực tiếp từ người Kinh về chỉnh lại theo thang âm rồi bán cho những người quanh vùng có nhu cầu. Siu Nghin đã truyền nghề cho những con trai của mình. Trong số các con ông, sau này có Nay Phai (ama San) đã trở thành người duy nhất uy tín về việc gò chỉnh để mang lại âm thanh cho nhiều loại cồng chiêng của những tộc người khác nhau sinh sống trong vùng tam giác của 3 tỉnh Gia Lai - Đak Lăk- Phú Yên. Còn em trai của Nay Phai 17 là Nay Dri (sinh năm 1966) hiện ở thôn Ama San, xã Ia Mơ Rơn, huyện Ia Pa cũng là một nghệ nhân chỉnh chiêng giỏi trong vùng.
Người Jrai tin rằng chỉ có những người được "Yàng cho âm thanh" của cồng chiêng mới làm được nghề này. Lúc đầu, mỗi khi chỉnh một chiếc cồng hoặc chiêng người thợ phải cần đến 2 - 3 người cùng thử để so âm. Nhiều khi gò đi, gò lại vẫn không có được âm thanh như ý muốn. Khi đã là một thợ lành nghề, "âm thanh đã ở sẵn trong đầu" - như cách nói của các nghệ nhân –thì lúc người thợ cần là nó hiện ra ngay.
Tôn giáo hay đạo có thể được định nghĩa là một hệ thống văn hóa của các hành vi và thực hành được chỉ định, quan niệm về thế giới, các kinh sách, địa điểm linh thiêng, lời tiên tri, đạo đức, hoặc tổ chức, liên quan đến nhân loại với các yếu tố siêu nhiên, siêu việt hoặc tâm linh. Tuy nhiên, hiện tại chưa có sự đồng thuận học thuật về những gì chính xác cấu thành một tôn giáo (Morreall, John, Sonn, Tamara, 2013). Trong tiếng Anh: tôn giáo là religion - xuất phát từ tiếng Latinh religio mang nghĩa "tôn trọng điều linh thiêng, tôn kính thần linh" hay "bổn phận, sự gắn kết giữa con người với thần linh") - xét trên một cách thức nào đó, đó là một phương cách để giúp con người sống và tồn tại với sức mạnh siêu nhiên từ đó làm lợi ích cho vạn vật và con người), đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó. Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng và trần tục (Những ý niệm này được nhà xã hội học nổi tiếng người Emile Durkheim (1858-1917) đưa ra để phân tích cơ sở của tôn giáo.
Tín ngưỡng Theo Từ điển Hán- Việt của học giả Đào Duy Anh, tín ngưỡng được giải thích: “Lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” (Đào Duy Anh, 1996).