phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo. Nội dung của khóa luận đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng1.Cơ sở lý luận Chƣong 2. Giá trị văn hoá các nghi lễ theo chu kỳ đời ngƣời của tộc ngƣời Tày ở thôn Tân lập-xã Tân Trào-huyện Sơn Dƣơng-tỉnh Tuyên Quang Chƣong 3.Các giải pháp khai thác các giá trị văn hoá của ngƣời Tày tại thôn Tân Lập để phục vụ hoạt động du lịch SINH VIÊN: PHẠM QUANG HƢNG - VHL 101 5 Tìm hiểu nghi lễ vòng đời ngƣời của tộc ngƣời Tày tại thôn Tân Lập – xã Tân Trào huyện Sơn Dƣơng tỉnh Tuyên Quang để phục vụ hoạt động du lịch CHƢƠNG 1. Một số khái niệm về tộc ngƣời.
Khái niệm tộc người: Trong 60 năm qua, ở Việt Nam đã sử dụng khái niệm “Dân Tộc” để chỉ một cộng đồng ngƣời cụ thể (Việt, Thái, Dao, Hoa, Mƣờng, Tày…) nhƣng thực ra khái niệm đó chính là “Tộc Ngƣời”. Cũng nhƣ đại bộ phận tên gọi của các ngành khoa học, thuật ngữ “Dân tộc học” - Ethongraphy, Ethnology là từ phát sinh của các yếu tố Hy Lạp cổ, gồm “Ethnos”, chuyển nghĩa tƣơng đƣơng là dân tộc (tộc ngƣời). Tộc ngƣời là một hình thái tập đoàn ngƣời hay một tập đoàn xã hội, đƣợc hình thành qua quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử, đƣợc phân biệt bởi 3 đặc trƣng cơ bản là: Ngôn ngữ, các đặc điểm về văn hóa, ý thức về cộng đồng mình, mang tính bền vững qua hàng ngàn năm lịch sử ứng với mọi chế độ kinh tế - xã hội gắn với các phƣơng thức sản xuất(Nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tƣ bản, chủ nghĩa xã hội) tộc ngƣời đƣợc gọi bằng các tên nhƣ: Bộ lạc, bộ tộc chiếm nô, bộ tộc phong kiến, dân tộc tƣ bản chủ nghĩa, dân tộc xã hội chủ nghĩa Theo định nghĩa này thì Việt Nam có 54 “tộc ngƣời”chứ không phải 54 “dân tộc” nhƣ cách hiểu trƣớc đây. Mỗi tộc ngƣời ở Việt Nam đều có nền văn hóa đặc trƣng góp phần xây dựng nên nền văn hóa Việt Nam đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc.
Khái niệm dân tộc thực chất phải đƣợc hiểu là tộc ngƣời (ethnic). Tộc ngƣời là hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện của con ngƣời mà là trong kết quả của quá trình tự nhiên - lịch sử. Điểm đặc trƣng của các tộc ngƣời là ở chỗ nó có tính bền vững giống nhƣ là những quy tắc tồn tại hàng nghìn năm. Mỗi tộc ngƣời có sự thống nhất bên trong xác định, cả những nét đặc thù để phân định nó với các tộc ngƣời khác.
Ý thức tự giác của những con ngƣời hợp thành tộc ngƣời riêng biệt đóng vai trò quan trọng cả trong sự thống nhất tƣơng hỗ, cả trong sự dị biệt với các cộng đồng SINH VIÊN: PHẠM QUANG HƢNG - VHL 101 6 Tìm hiểu nghi lễ vòng đời ngƣời của tộc ngƣời Tày tại thôn Tân Lập – xã Tân Trào huyện Sơn Dƣơng tỉnh Tuyên Quang để phục vụ hoạt động du lịch tƣơng tự khác trong hình thái phản đề của sự phân định “chúng ta” và “họ”. Theo đó, điều mà nhiều nhà khoa học chủ trƣơng là đồng nhất bản chất của tộc ngƣời với ý thức tự giác là không chuẩn xác. Đằng sau ý thức tự giác nhƣ vậy còn có cả giá trị tồn tại khách quan một cách hiện thực trong các tộc ngƣời của những con ngƣời thân thuộc 1. Đặc trưng cơ bản của tộc người.
Để xác định một tộc ngƣời và phân biệt tộc ngƣời này với tộc ngƣời khác cần dựa vào 3 đặc trƣng cơ bản sau: Ngôn ngữ tộc ngƣời, các đặc điểm về văn hóa, ý thức về tộc ngƣời mình. Các đặc trƣng này đƣợc hình thành trong quá trình hình thành và phát triển của tộc ngƣời và không thay đổi kể cả trong trƣờng hợp điều kiện sống thay đổi. Ngôn ngữ tộc người Ngôn ngữ bao gồm tiếng nói và chữ viết trong những chức năng và đặc trƣng cơ bản -Là công cụ giao tiếp. -Là hiện thực trực tiếp của tƣ tƣởng.
-Là hình thức biểu hiện của tƣ duy phản ánh thế giới khách quan. Chính vì vậy ngôn ngữ tộc ngƣời đƣợc coi là dấu hiệu đầu tiên để nhận biết một tộc ngƣời và phân biệt tộc ngƣời này với các tộc ngƣời khác. Thêm nữa ngôn ngữ còn là dây thông tin quan trọng để trao truyền văn hóa nhờ vậy văn hóa tộc ngƣời mới lƣu giữ đƣợc qua hàng ngàn năm lịch sử. Ngôn ngữ tộc ngƣời bao gồm các dạng sau: -Là tiếng mẹ đẻ đƣợc tiếp thu trực tiếp từ bé thông qua mẹ, gia đình, làng xóm, mang tính ổn định cao và khó thay dổi.
-Là ngôn ngữ của tộc ngƣời khác đƣợc lấy làm ngôn ngữ của tộc ngƣời mình -Hai ngôn ngữ trong cùng một tộc ngƣời, tình trạng song ngữ. Điều này xảy ra nhiều ở các tộc ngƣời thiểu số vùng Tây Bắc Do vậy với hai dạng sau ngôn ngữ không còn là tiêu chí quan trọng để SINH VIÊN: PHẠM QUANG HƢNG - VHL 101 7 Tìm hiểu nghi lễ vòng đời ngƣời của tộc ngƣời Tày tại thôn Tân Lập – xã Tân Trào huyện Sơn Dƣơng tỉnh Tuyên Quang để phục vụ hoạt động du lịch phân biệt tộc ngƣời 1. Các đặc trưng sinh hoạt văn hóa tộc người Trong số những dấu hiệu quan trọng phân định các tộc ngƣời có đặc trƣng văn hóa đã đƣợc các cƣ dân sáng tạo nên trong quá trình lịch sử của mình và đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sự tổng hòa các mối liên hệ tƣơng hỗ này giữa các đặc trƣng tạo thành truyền thống tộc ngƣời(enthical tranditon).
Những truyền thống này đƣợc hình thành trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử, trong mối liên hệ với các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội với địa lý tự nhiên trong cuộc sống của mỗi cƣ dân ngay cả trong trƣờng hợp điều kiện sống của mỗi tộc ngƣời đã có sự thay đổi lớn. Đây là một trong những điều kiện cơ bản quan trọng để phân định tộc ngƣời. Khi nói đến các đặc trƣng sinh hoạt văn hóa cần đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa hẹp: Là tổng thể các yếu tố tiêu biểu nhất về văn hóa vật thể và phi vật thể của tộc ngƣời đƣợc hình thành trong quá khứ. Nghĩa rộng: Đóng góp của văn hóa đó với văn hóa của quốc gia và văn hóa nhân loại.
Trên thực tế có trƣờng hợp các nhóm cƣ dân trong cùng một lãnh thổ, nơi cùng một thứ tiếng với nhau, nhƣng không hẳn đã có chung một đặc điểm văn hóa. Một tộc ngƣời khi đã mất đi đặc trƣng văn hóa thì chỉ là một cộng đồng sinh học mà thôi. Ý thức tự giác tộc người Các yếu tố lãnh thổ, ngôn ngữ, kinh tế, văn hóa kết hợp với nhau và đƣợc bảo lƣu lâu bền trong đặc tính của mỗi tộc ngƣời phát triển thành ý thức tự giác tộc ngƣời, là tiêu chí cơ bản, quan trọng để phân biệt một tộc ngƣời và phân biệt với các tộc ngƣời khác. Ý thức tự giác tộc ngƣời là sự tự ý thức về tộc ngƣời mình, tự nhận mình là tộc ngƣời nào.
Nó còn là sự hiện diện và phát triển của công động mình trƣớc các cộng đồng khác và cộng đồng bên ngoài. Ý thức tự giác tộc ngƣời đƣợc nảy SINH VIÊN: PHẠM QUANG HƢNG - VHL 101 8 Tìm hiểu nghi lễ vòng đời ngƣời của tộc ngƣời Tày tại thôn Tân Lập – xã Tân Trào huyện Sơn Dƣơng tỉnh Tuyên Quang để phục vụ hoạt động du lịch sinh và phát triển trong mối liên hệ mật thiết với sự nuôi dƣỡng giáo dục của gia đình, dòng tộc, làng bản và đƣợc trao truyền qua các thế hệ. Văn hóa tộc người với phát triển du lịch 1. Khái niệm văn hóa tộc người Văn hóa tộc ngƣời là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do các cƣ dân tộc ngƣòi sáng tạo và tích lũy trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử tự nhiên trong cuộc sống của mỗi dân cƣ, ngay cả trong trƣờng hợp điều kiện sống của mỗi tộc ngƣời đã có sự thay đổi lớn.
Nó gồm một hệ thống di tích lịch sử các thắng cảnh, các quần thể kiến trúc làng bản, nhà cửa các đô thị cổ, các sinh hoạt văn hóa, lễ hội thu hút một lƣợng lớn khác du lịch đến tham quan nghiên cứu. Vào những năm 70 của thế kỷ 20 các nhà dân tộc học của nƣớc cộng hòa Acraeni- chia văn hóa tộc ngƣời ra thành 3 bộ phận. -Văn hóa sản xuất: Những gì liên quan đến sản xuất cả tri thức và kinh nghiệm sản xuất. -Văn hóa bảo đảm đời sống: Những gì liên quan đến ăn mặc ở.
-Văn hóa chuẩn mực xã hội: Gồm các thiết chế xã hội, các ứng xử xã hội đƣợc cố định thành phong tục, luật tục. Văn hóa tộc ngƣời cũng có thể chia làm 2 bộ phận. -Văn hóa vật chất: Là những yếu tố liên quan đến công cụ sản xuất, phƣơng tiện vận chuyển đi lại nhà cửa, quần áo, đồ ăn… -Văn hóa tinh thần:Là những yếu tố liên quan đến hoạt động văn hóa tinh thần, ví dụ: Khoa học, triết học, tôn giáo, tín ngƣỡng , lễ hội… Sự phân biệt trên chỉ là tƣơng đối vì không có yếu tố vật chất nào lại không bao hàm yếu tố tinh thần. Các cách phân loại văn hóa tộc người ở nước ta.
Ở Việt Nam có rất nhiều cách phân loại văn hóa tộc ngƣời nhƣ phân loại dựa trên đặc điểm về ngôn ngữ, môi trƣờng địa lý, tự nhiên, xã hội, nhân văn. Phân loại theo ngôn ngữ, nhóm ngôn ngữ (nhóm ngôn ngữ). Có sự phân loại SINH VIÊN: PHẠM QUANG HƢNG - VHL 101 9 Tìm hiểu nghi lễ vòng đời ngƣời của tộc ngƣời Tày tại thôn Tân Lập – xã Tân Trào huyện Sơn Dƣơng tỉnh Tuyên Quang để phục vụ hoạt động du lịch này vì các tộc ngƣời có chung ngôn ngữ, ngữ hệ thì thƣờng có những đặc điểm giống nhau về văn hóa. Ở Việt Nam có các nhóm văn hóa ngôn ngữ Việt - Mƣờng, Môn-Khơ me, Tày- Thái, H’Mông-Dao, Tạng - Miến, Kadai.
Bên cạnh việc nghiên cứu phân loại văn hóa theo nhóm văn hóa ngôn ngữ các công trình nghiên cứu văn hóa tộc ngƣời cũng đã tiếp cận và phân loại dựa trên những đặc điểm sắc thái về môi trƣờng địa lý tự nhiên- xã hội và nhân văn theo các vùng lãnh thổ.