Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa dân gian (mã số 62 22 01 30) với đề tài "Tang ma của người Thái: Quy trình nghi lễ để tạo cuộc sống mới cho người chết (trường hợp người Thái Phù Yên, Sơn La)" do nghiên cứu sinh Lò Xuân Dừa thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Phương Châm, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2016.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nghiên cứu về người Thái và hệ ngôn ngữ Tày - Thái đã trở thành một chủ đề thu hút sự quan tâm của giới học thuật trong nước và quốc tế (Thái học - Thai Studies) từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Trong các phong tục nghi lễ vòng đời người Thái, tang ma là một phức hợp nghi lễ tín ngưỡng dân gian tiêu biểu gắn liền với sự kiện một thành viên qua đời và quy tắc ứng xử của cộng đồng nhằm chuẩn bị cho người chết bước vào cõi vĩnh hằng cùng tổ tiên.

Mặc dù có nhiều công trình đề cập đến tang ma Thái, phần lớn các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khảo tả thuần túy các bước nghi lễ, nhìn nhận đám tang như một di sản văn hóa cần bảo tồn hoặc phân tích sự biến đổi văn hóa dưới tác động của hiện đại hóa. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có công trình nào đi sâu luận giải một cách hệ thống quy trình tổ chức tang ma Thái dưới góc độ ý nghĩa và chức năng tâm lý đối với người sống và người chết, đặc biệt là cơ chế người sống tạo dựng cuộc sống mới cho người quá cố.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Cung cấp một nghiên cứu trường hợp cụ thể đóng góp vào các cuộc thảo luận học thuật trong ngành nghiên cứu văn hóa và nhân học về vai trò, chức năng và ý nghĩa văn hóa - xã hội của nghi lễ tang ma.
    2. Cung cấp hệ thống cứ liệu khoa học phục vụ các nhà quản lý văn hóa địa phương trong việc xây dựng và thực thi chính sách quản lý văn hóa phi vật thể và nếp sống văn minh.
    3. Nhận diện và làm sáng tỏ truyền thống lịch sử, văn hóa tín ngưỡng của người Thái ở Phù Yên (Sơn La) nhằm góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Sưu tầm, hệ thống hóa nguồn tài liệu thành văn và kết quả nghiên cứu liên quan đến người Thái và tang ma của các tộc người.
    2. Thực hiện khảo sát điền dã dân tộc học tại địa bàn huyện Phù Yên để thu thập tư liệu thực địa về các thực hành tang ma.
    3. Phân tích, tổng hợp và so sánh quy trình nghi lễ, văn bản mo và hệ thống biểu tượng trong đám tang của người Thái Phù Yên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy trình nghi lễ trong tang ma của người Thái Phù Yên (tập trung chủ yếu vào các đám tang tổ chức cho người chết bình thường, chết già, đã có tuổi); các thực hành nghi lễ diễn ra trước, trong và sau đám tang; ý nghĩa của các thực hành và biểu tượng nghi lễ.
  • Phạm vi không gian: Cộng đồng người Thái tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Địa bàn khảo sát điền dã trọng điểm gồm các bản thuộc các xã Quang Huy, Huy Bắc, Tường Phù, Tường Thượng, Tường Tiến, Huy Tường và thị trấn Phù Yên; mở rộng so sánh với dân tộc Mường và các tộc người cùng cộng cư.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điền dã được thực hiện đan xen từ năm 2006 đến năm 2016, trong đó tác giả trực tiếp quan sát tham dự gần 30 đám tang từ năm 2009 đến thời điểm hoàn thành luận án.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan và phân loại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan theo các nhóm chủ đề chính:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Nghiên cứu về tang ma của người Việt và các tộc người khác tại Việt Nam:
    • Các tác phẩm khảo cứu phong tục tang ma của người Việt của Đào Duy Anh (1938), Phan Kế Bính (1915), Toan Ánh (1967), Phạm Côn Sơn, Xuân Trường, Minh Đường, Trương Thìn, Đức Thành, Túy Lang Nguyễn Văn Toàn, Phan Thuận Thảo, Lê Trung Vũ - Nguyễn Hồng Dương - Lê Hồng Lý (2001). Đáng chú ý, ấn phẩm của Phạm Minh Thảo đã liên hệ phong tục tang ma với thuyết vật linh và linh hồn của Edward Tylor ("sống gửi thác về").
    • Nghiên cứu tang ma các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc và Tây Nguyên: Trần Từ (1983), Đinh Văn Ân, Bùi Huy Vọng, Nguyễn Thị Song Hà nghiên cứu về người Mường ở Hòa Bình; Hoàng Tuấn Nam nghiên cứu người Tày; Lý Hành Sơn nghiên cứu người Mạ; Hoàng Thị Thủy nghiên cứu người H'Mông; Đổng Văn Dinh nghiên cứu người Chăm; Đinh Hồng Hải nghiên cứu biểu tượng âm giới của người Mường; Nguyễn Thị Ngân nghiên cứu tang ma người Nùng Phàn Sình.
  2. Các nghiên cứu chung về lịch sử, kinh tế và văn hóa người Thái:
    • Sử liệu thời phong kiến: Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), Hưng Hóa xứ phong thổ lục (Hoàng Bình Chính), Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư.
    • Thời kỳ Pháp thuộc: R. Robert nghiên cứu về người Tày Đèng ở Lang Chánh (Thanh Hóa).
    • Giai đoạn sau năm 1954: Các công trình của Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Quynh; đặc biệt là Đặng Nghiêm Vạn và Cầm Trọng với Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái (1977), Cầm Trọng với Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam (1978) đã dành dung lượng lớn phân tích về vũ trụ quan, Mường Phạ, Phi Then và hệ thống tín ngưỡng linh hồn (Phi Khuôn, Phi Hươn, Phi Bản, Phi Mường).
    • Các nghiên cứu chuyên đề từ thập niên 1980 trở đi: Hoàng Lương (hoa văn, hôn nhân Mường Tấc), Lê Ngọc Thắng (trang phục Thái), Vi Văn An (thiết chế bản mường), Artha Nantachukra (văn hóa vật chất Thái Nghệ An), Nguyễn Thị Thanh Nga (nghề dệt), Lò Vũ Vân (văn hóa dân gian Mộc Châu - Phù Yên - Bắc Yên).
  3. Các nghiên cứu chuyên sâu về tang ma và tín ngưỡng của người Thái:
    • Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Hữu Thức, Hà Sủm (1995) trong Tìm hiểu văn hóa cổ truyền người Thái Mai Châu đã khảo tả quy trình tang lễ cổ truyền 8 bước và tục làm hiếu 8 ngày.
    • Đỗ Thúy Bình (1994) mô tả nghi lễ tang ma người Thái Đen Thuận Châu với vai trò của rể gốc, hỏa táng trước thổ táng sau.
    • Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (1999) trong Luật tục Thái ở Việt Nam công bố tư liệu bản thảo của Liêm Phính (1961) về lệ tục tang ma Thái Đen và bài khóc tiễn đưa ở Phong Thổ (Lai Châu).
    • Vương Trung sưu tầm mo tiễn hồn người Thái Đen Mường Muổi (Mo Khuôn); Hoàng Trần Nghịch (2000, 2005) xuất bản Lời tang lễ dân tộc Thái, Những lời cúng tế của dân tộc Thái, Sổ xem ngày - xem giờ (thống kê 123 loại phi, 46 loại sên, 80 hồn trong cơ thể người).
    • Lường Song Toàn (1998) nghiên cứu mo tang lễ Thái Mai Châu; Lường Thị Đại (2005) nghiên cứu Tang lễ của người Thái trắng tại Mường Lay (Điện Biên) dài 437 trang với quy trình 5 ngày 24 nghi lễ; Lê Hồng Lý nghiên cứu sự biến đổi tang lễ Thái Trắng tại Quỳnh Nhai (Sơn La); Quán Vi Miên (2012) khảo cứu Tang lễ của người Thái Nghệ An (hơn 1000 trang) và Mường Bôn huyền thoại; Lò Vũ Vân nghiên cứu tang lễ dòng họ Sa ở Mộc Châu, Bắc Yên.
    • Hoàng Cầm nghiên cứu về ngôn ngữ nghi thức và mo tang ma người Thái Mường Tấc (Phù Yên); Đậu Tuấn Nam nghiên cứu tín ngưỡng phi của người Thái Quỳ Châu (Nghệ An); Lò Văn Lả nghiên cứu Mường Phạ qua bài cúng.
    • Lò Xuân Dừa (2014) biên soạn công trình chuyên khảo Lễ tang họ Lò bản Tặt (dài hơn 1500 trang), mô tả tang lễ 3 ngày 2 đêm và dịch các bài mo.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Mặc dù nguồn tư liệu về người Thái rất đồ sộ, các công trình đi trước chưa khảo tả toàn diện quy trình tổ chức tang ma hoàn chỉnh của người Thái Trắng tại huyện Phù Yên (Sơn La) trong mối quan hệ giao lưu văn hóa với người Mường. Đồng thời, các nghiên cứu chưa ứng dụng khung lý thuyết chức năng tâm lý để luận giải bản chất các hành vi nghi lễ và biểu tượng như một tiến trình văn hóa nhằm giải tỏa khủng hoảng tinh thần của người sống và kiến tạo cuộc sống mới cho người chết. Luận án được triển khai để giải quyết trực tiếp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm tiếp cận

Luận án vận dụng hướng tiếp cận chức năng tâm lý - xã hội trong nhân học và nghiên cứu văn hóa, dựa trên hai lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết chức năng tâm lý của Robert Hertz (1960): Trình bày trong công trình Death and the Right Hand (nghiên cứu tang lễ tại Borneo, Indonesia). Hertz chỉ ra rằng cái chết tạo ra cú sốc xã hội và sự đứt gãy tinh thần cho người sống. Tang lễ và các nghi lễ liên quan thực hiện chức năng tâm lý giúp thân nhân vượt qua chấn thương, chấp nhận sự mất mát, chuyển hóa người chết từ trạng thái thể xác sang trạng thái linh hồn và tái thiết lập trật tự xã hội.
  2. Lý thuyết chuyển hóa "Từ tử đến sinh" của Charles Keyes (1987): Trình bày trong bài viết From Death to Birth: Ritual Process and Buddhist Meanings in Northern Thailand. Keyes phân tích tang lễ như một tiến trình nghi lễ giúp gia quyến vượt qua cảm xúc tuyệt vọng trước sự hủy diệt của cái chết bằng niềm tin rằng người chết không biến mất vĩnh viễn mà được chuyển hóa sang một cuộc sống mới, từ đó giúp người sống tái lập ổn định đời sống thường nhật.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Là phương pháp chủ đạo. Tác giả thực hiện quan sát tham dự trực tiếp gần 30 đám tang của các dòng họ người Thái tại Phù Yên từ năm 2009 đến 2016 (hơn một nửa số đám tang được quan sát trọn vẹn từ đầu đến cuối). Phương pháp này kết hợp ghi chép nhật ký thực địa, ghi âm, ghi hình và tổ chức thảo luận nhóm.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn hồi cố: Tiến hành phỏng vấn sâu các tầng lớp dân cư (tang chủ, con dâu, con rể, cán bộ địa phương, người cao tuổi) và phỏng vấn chuyên gia tín ngưỡng là các thầy mo ma (mọ phị) nổi tiếng tại địa bàn: ông Hà Văn Lai (bản Phai Làng, xã Huy Bắc), Hoàng Văn Ành (bản Mo Nghè, xã Quang Huy), Hoàng Văn Dường (bản Bùa Chung, xã Tường Phù), Lò Văn Chướng (bản Chăn, xã Tường Thượng), Hà Văn E (bản Tầm Ốc, xã Tường Hạ), Vì Văn Úng (bản Phố, xã Huy Bắc).
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu và văn bản học: Sưu tầm, đối chiếu các nguồn tư liệu thứ cấp đã xuất bản; khảo sát, phiên âm và dịch nghĩa các bài mo tang lễ được ghi âm trực tiếp từ thực địa.
  • Phương pháp so sánh và liên ngành: Vận dụng so sánh đồng đại và lịch đại giữa các nhóm Thái (Thái Trắng, Thái Đen) và giữa người Thái với người Mường cộng cư tại Mường Tấc; kết hợp phương pháp liên ngành dân tộc học, văn hóa học và nhân học văn hóa.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tư liệu điền dã sơ cấp thu thập trực tiếp tại các xã Quang Huy, Huy Bắc, Tường Phù, Tường Thượng, Tường Tiến, Huy Tường và thị trấn Phù Yên (tỉnh Sơn La).
  • Băng ghi âm và bản phiên âm các bài mo tang lễ Thái do chính các nghệ nhân hát mo tại Phù Yên thực hành.
  • Tư liệu thành văn thứ cấp gồm sách chuyên khảo, kỷ yếu Hội thảo Thái học Việt Nam (các lần 1 đến 7), các luận văn, luận án và bài báo khoa học chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Cấu trúc nội dung chính của luận án được trình bày qua 4 chương:

Chương Tên chương trong văn bản Trọng tâm nội dung và luận điểm chính
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu Hệ thống hóa tài liệu; xác lập khung lý thuyết Hertz - Keyes; đặc điểm tự nhiên, lịch sử, văn hóa Phù Yên và quan hệ hỗn cư Thái - Mường.
Chương 2 Quy trình chuẩn bị trong tang ma Thái Vũ trụ quan 3 tầng; quan niệm về sự sống và cái chết; các nghi thức khi người mới chết (gọi hồn, tắm xác, bó cuống tôm, căng màn 3 góc, chuẩn bị vải vóc và đồ tang).
Chương 3 Quy trình thực hành nghi lễ cúng ma Diễn trình các nghi lễ cúng ma trong nhà; nghi thức đưa ma ra Động Heo; nghi lễ chôn cất, kết nối cờ ma và các nghi lễ sau khi chôn (làm nhà mồ, buộc chỉ cổ tay).
Chương 4 Vai trò và chức năng của các thực hành nghi lễ trong việc tạo cuộc sống mới cho người chết Luận giải vai trò thầy mo, dâu ma, rể ma; chức năng diễn xướng các bài mo dẫn hồn; giải mã ý nghĩa biểu tượng nghi lễ (vải thổ cẩm, cây cờ ma, nhà mồ).

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu

Chương này dành cho việc tổng thuật lịch sử nghiên cứu, xác lập cơ sở lý luận chức năng tâm lý và giới thiệu toàn diện về địa bàn nghiên cứu huyện Phù Yên (Sơn La):

  • Đặc điểm tự nhiên và địa lý: Phù Yên có diện tích tự nhiên 123.655 ha (chiếm 8,7% diện tích tỉnh Sơn La), nằm ở sườn phía Tây dãy Hoàng Liên Sơn nối tiếp dãy Pú Luông - Xà Phình (đỉnh cao nhất 2.579 m, điểm thấp nhất 120 m ven sông Đà). Địa bàn chia thành 4 tiểu vùng: tiểu vùng 1 (6 xã người Mường), tiểu vùng 2 (8 xã vùng thung lũng lòng chảo cánh đồng Mường Tấc rộng 700 ha - lớn thứ ba vùng Tây Bắc, nơi hỗn cư chính của người Thái, Mường, Kinh), tiểu vùng 3 (9 xã vùng lòng hồ sông Đà), tiểu vùng 4 (3 xã vùng cao người Mông). Sông Đà chảy qua phía Nam huyện dài 53 km cùng 4 hệ thống suối chính (suối Tấc, suối Sập, suối Mưa, suối Khoáng).
  • Lịch sử và cơ cấu tộc người: Người Thái Trắng (Tày Khao) là cư dân khai phá cánh đồng Mường Tấc từ lâu đời, tự nhận là con cháu của Tạo Tấc. Cùng sinh sống là cộng đồng người Mường với 3 nhóm: Mường Pi (từ Mường Bi, Mường Thàng - Hòa Bình, mang các họ Đinh), Mường Klêl (từ Ba Vì - Sơn Tây, định cư tại Mường Bang, Mường Lang, nắm giữ chức năng trông coi chạu xựa - chủ hồn áo Mường Tấc và rước Được thắc ở đình Chu) và Mường sông Mã.
  • Giao lưu văn hóa Thái - Mường: Sự tiếp xúc lâu dài tạo nên hiện tượng song ngữ Thái - Mường; người Thái biết hát đang Mường, người Mường biết hát khắp Thái. Cả hai tộc người chia sẻ kiểu nhà sàn 4 mái, trang phục váy có hua xịn và áo xửa cóm, ẩm thực mâm 6 người uống rượu cần/rượu cất (lau siệu). Trong tang lễ, các gia đình Thái và Mường thường mời thầy mo của nhau để tiến hành nghi lễ, dẫn đến sự đan xen sâu sắc về biểu tượng và thực hành nghi lễ.

Chương 2: Quy trình chuẩn bị trong tang ma Thái

Chương 2 tập trung phân tích vũ trụ quan và chi tiết các bước chuẩn bị vật chất, tâm linh khi gia đình có người qua đời (tập trung vào người chết già):

  • Vũ trụ quan 3 tầng theo trục dọc:
    • Mường Phạ (Mường Then/Mường Trời): Do Then Luông (Ngọc Hoàng) cai quản, nơi có 40 gian nhà Then (xì xíp xẹn păn hóng), cuộc sống trù phú, bất tử. Mường Phạ gồm nhiều địa vực: vùng người chết trẻ (tại òn tại cháu) giáp sông Nặm Ta Khái; Mường Mo/Mường Một (nơi ở của các thầy mo, bà một); và tận cùng vũ trụ là Đẳm đọi ngoi phá - nơi ngụ cư vĩnh hằng của ma tổ tiên các dòng họ.
    • Mường Piêng (Mường bằng/Mường người): Không gian sinh sống của con người trần gian.
    • Mường Lum (Mường dưới đất): Nơi cư trú của những người tí hon.
  • Quan niệm về sự sống, cái chết và linh hồn: Người Thái quan niệm con người có thể xác và 80 hồn (khoăn) (30 hồn phía trước, 50 hồn phía sau). Chết không phải là hết (mết đơi) mà là sự chuyển đổi trạng thái từ thể sống sang thể ma (phi). Sau khi chết, các hồn phân tụ: hồn vía chính tụ thành phi được thầy mo dẫn dắt lên Đẳm đọi ngoi phá; hồn thân xác về Động Heo (rừng ma - cõi mồ mả tổ tiên); hồn gốc và hồn ngọn về ngụ tại bàn thờ (hán hòng, choong xơ) trở thành ma nhà (Phi Hươn) để phù hộ con cháu.
  • Các nghi thức khi người mới qua đời:
    1. Hành vi ứng xử ban đầu: Con cháu canh hơi thở cuối cùng (khạt chợ), gọi tên tục người mất. Con trai cả cầm dao và 3 nén hương ra sân ngửa mặt than trách trời đất, chém 3 nhát vào cửa sổ đầu hồi (tàng khoạng) hoặc vách trái hồi. Người nhà đánh 2 hồi chiêng dài hoặc 2 hồi 3 tiếng trống cái báo hiệu tang sự; người đứng tuổi nâng cằm, vuốt mặt người mất.
    2. Vệ sinh và liệm thi hài: Phụ nữ đun nước lá thơm tắm gội, mặc trang phục mới. Hai người đàn ông dùng sợi rơm bện buộc ngón chân và ngón tay (buộc nài). Sau đó tiến hành bó thi hài thành hình "cuống tôm" bằng vải trắng thổ cẩm (nam bó 7 lượt, nữ bó 9 lượt, thắt 3 đoạn). Một người đàn ông dùng than đen vạch 7 vạch (nam) hoặc 9 vạch (nữ) lên bọc vải để xác nhận số lượng vải giao nộp đầy đủ cho người chết.
    3. Không gian thiêng: Căng màn 3 góc (hình thức dành riêng cho người chết, người sống kiêng kỵ tuyệt đối) và quây vải mặt chăn (na pha) 4 bên để ngăn ngừa tà ma xâm nhập. Báo cáo trưởng bản để phối hợp điều hành tang lễ.
  • Chuẩn bị vải vóc (Lan phái) và đồ tang: Vải bông tự dệt đóng vai trò trung tâm với nhiều công năng: vải cuộn trắng (cài phai) dùng để liệm, kê quan tài, làm cờ ma, viết giấy thông hành, làm đồ tang; vải hoa văn mặt chăn (na pha) xanh đỏ đen dùng quây áo quan, lợp nhà mồ, bọc đòn khiêng quan tài (máy dua); dải vải trắng lót mâm lễ cúng Phi Táy của thầy mo; sợi vải xé nhỏ dùng làm chỉ buộc cổ tay giữ vía cho con cháu (thực hiện hơn 10 lần trong suốt đám tang). Tang phục được phân chia theo 3 mức độ (tang 3 tầng dành cho con đẻ, con dâu, cháu nội gồm áo quần xô xé gấu, mũ rơm, khăn thắt lưng, gậy chống; tang 2 tầng và tang 1 tầng cho các hàng cháu chắt và họ hàng xa).

Chương 3: Quy trình thực hành nghi lễ cúng ma

Chương 3 tái hiện toàn bộ tiến trình diễn xướng nghi lễ từ khi nhập quan đến sau khi an táng:

  • Quy trình tổ chức các nghi lễ cúng ma tại gia: Thực hiện nghi thức nhập quan; tổ chức các bữa cúng dâng cơm ma (dâng khau phi) đều đặn vào các buổi sáng, trưa, tối. Thầy mo thực hiện nghi lễ cởi tội giải oan (ke sộ) để tẩy sạch lỗi lầm trần thế cho vong linh; thực hiện các thủ tục phân chia tài sản, vật dụng sinh hoạt (công cụ lao động, đồ dùng, gia súc) từ người sống giao cho người chết mang sang thế giới bên kia.
  • Nghi lễ đưa ma (đưa tang): Di chuyển quan tài bằng hệ thống đòn khiêng (máy dua) trang trí vải thổ cẩm từ nhà sàn ra khu rừng ma (Động Heo). Gia đình tổ chức các nghi thức tiễn biệt, hạ huyệt, lấp đất và thiết lập hệ thống kết nối tâm linh bằng sợi chỉ vải nối từ đáy huyệt mộ lên ngọn cây cờ ma (co heo / cọ cao / chao phạ).
  • Các nghi lễ sau khi đưa ma: Con cháu dựng nhà mồ bên trên mộ phần, trang trí vải mặt chăn và đồ dùng tượng trưng; thực hiện nghi thức đưa cơm ra mộ lần cuối; tổ chức lễ rửa nhà để tẩy uế không gian cư trú; thầy mo làm lễ buộc chỉ cổ tay chuộc vía, cầu an cho toàn thể gia quyến và những người giúp việc đám tang nhằm tái lập sự cân bằng tâm lý và ổn định trật tự đời sống sinh hoạt.

Chương 4: Vai trò và chức năng của các thực hành nghi lễ trong việc tạo cuộc sống mới cho người chết

Chương 4 là chương phân tích lý thuyết chuyên sâu, luận giải cơ chế tạo dựng cuộc sống mới và ổn định xã hội thông qua 3 thành tố:

  • Vai trò và chức năng của các chủ thể thực hành: Thầy mo (mọ phị, mọ then) đóng vai trò là sứ giả thần linh, người nắm giữ tri thức dân gian, dẫn dắt linh hồn vượt qua các cửa ải hiểm trở lên Mường Then; dâu ma và rể ma đóng vai trò phục vụ việc ăn uống, hầu hạ thi hài và đại diện thực thi nghĩa vụ đối với người đã khuất; đội kèn trống tạo không gian âm thanh nghi lễ trang nghiêm.
  • Vai trò và chức năng của các bài mo: Hệ thống bài mo (như Tảy ỏn óc, Quám sống phi, mo cởi tội, mo chia của) là văn bản diễn xướng thiêng liêng. Lời mo chỉ đường dẫn hồn ma vượt qua hơn 30 địa danh, cửa ải hiểm trở, đặc biệt là vượt sông Nặm Ta Khái (ranh giới giữa người sống và người chết) để lên Mường Then thực hiện thủ tục gạch sổ trần gian, sau đó đưa hồn về ngụ cư vĩnh viễn tại Đẳm đọi ngoi phá.
  • Chức năng của các biểu tượng nghi lễ: Các biểu tượng như bọc "cuống tôm", màn 3 góc, số lượt vải 7/9, than đen, đòn khiêng máy dua, cây cờ ma, nhà mồ và sợi chỉ buộc cổ tay... thực hiện chức năng biểu đạt sự chuyển đổi trạng thái bản thể học của con người từ sự sống trần gian sang sự sống vĩnh hằng ở thế giới tổ tiên. Đồng thời, các biểu tượng này giải tỏa nỗi sợ hãi về cái chết, giúp thân nhân giải phóng chấn thương tâm lý và củng cố tinh thần đoàn kết cộng đồng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã kiểm chứng và vận dụng thành công khung lý thuyết chức năng tâm lý - xã hội của Robert Hertz và Charles Keyes vào nghiên cứu trường hợp tang ma của người Thái Trắng tại huyện Phù Yên (Sơn La).
  2. Chứng minh rằng các thực hành nghi lễ trong tang ma Thái không đơn thuần là sự biểu thị đau thương, thương tiếc hay nghi thức chôn cất thể xác, mà là một quy trình văn hóa chặt chẽ nhằm chuyển hóa người chết sang một trạng thái sinh tồn mới tại thế giới tổ tiên (Đẳm đọi ngoi phá), đồng thời giúp người sống giải tỏa khủng hoảng tâm lý và tái lập trật tự xã hội.
  3. Bổ sung một nghiên cứu trường hợp vào bức tranh học thuật của ngành Văn hóa học, Dân tộc học và Thái học quốc tế về chức năng văn hóa của nghi lễ đời người.

Đóng góp về mặt thực tiễn và quản lý

  1. Cung cấp một hệ thống tư liệu điền dã dân tộc học chi tiết, chân thực về quy trình chuẩn bị, nghi lễ cúng ma, văn bản mo và hệ thống biểu tượng tang ma của người Thái Phù Yên.
  2. Làm sáng tỏ sự giao lưu, tiếp biến văn hóa đặc thù giữa người Thái Trắng và người Mường tại thung lũng Mường Tấc trong việc chia sẻ không gian văn hóa, cấu trúc nhà sàn, ngôn ngữ và thực hành nghi lễ.
  3. Cung cấp cơ sở khoa học giúp chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý văn hóa tại Sơn La hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, giữ gìn các giá trị nhân văn truyền thống đi đôi với việc vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, loại bỏ các yếu tố rườm rà, tốn kém.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu các đám tang được tổ chức cho những người chết bình thường, chết già (đã có tuổi, từ 50 tuổi trở lên) tại vùng thung lũng Mường Tấc của huyện Phù Yên. Do đó, luận án chưa khảo sát sâu quy trình tang ma dành cho các trường hợp chết bất thường, chết trẻ hoặc chết dữ. Việc so sánh với các nhóm Thái Đen, Thái Thanh ở các vùng địa lý khác (như Điện Biên, Lai Châu, Nghệ An, Thanh Hóa) chủ yếu dựa trên nguồn tài liệu thứ cấp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu quy trình và tập quán ứng xử đối với các trường hợp chết bất thường (tại òn tại cháu, chết tai nạn, chết sông nước) trong xã hội Thái truyền thống và hiện đại.
    • Nghiên cứu sâu hơn về sự biến đổi của nghi lễ tang ma Thái dưới tác động của quá trình tái định cư nhường đất cho lòng hồ thủy điện Hòa Bình và tiến trình đô thị hóa, hiện đại hóa hiện nay.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Nhân học và Văn hóa dân gian; cung cấp phương pháp tiếp cận chức năng tâm lý và phương pháp điền dã thực địa trong nghiên cứu nghi lễ tôn giáo tín ngưỡng.
  • Đối với các nhà nghiên cứu Thái học: Nguồn tư liệu điền dã về văn bản mo ghi âm trực tiếp, danh sách thầy mo, các thực hành biểu tượng (bó cuống tôm, màn 3 góc, vải lan phái) và quan hệ hỗn cư Thái - Mường tại Mường Tấc có giá trị tư liệu cao.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý văn hóa: Cung cấp luận cứ khoa học để nhận diện giá trị văn hóa cốt lõi của tang ma Thái, từ đó xây dựng các quy ước, hương ước xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại các tỉnh miền núi Tây Bắc một cách hài hòa và hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

1. Vũ trụ quan của người Thái Phù Yên được phân chia như thế nào trong tang ma?

Người Thái Phù Yên quan niệm vũ trụ phân chia thành 3 tầng theo trục dọc: Mường Phạ (Mường Then/Mường Trời - nơi ở của Then Luông, các thần linh, thầy mo và tận cùng là Đẳm đọi ngoi phá của ma tổ tiên), Mường Piêng (Mường bằng - thế giới trần gian của con người) và Mường Lum (thế giới dưới lòng đất của người tí hon).

2. Nghi thức bó thi hài "vào cuống tôm" và dùng than vạch số lượng có ý nghĩa gì?

Sau khi tắm rửa nước lá thơm và mặc quần áo mới, thi hài được bó bằng vải trắng thổ cẩm thành hình "cuống tôm" (nam 7 lượt vải, nữ 9 lượt vải, thắt làm 3 đoạn). Người đứng tuổi dùng than đen vạch 7 vạch (đối với nam) hoặc 9 vạch (đối với nữ) lên bọc vải nhằm xác nhận với thế giới ma rằng người sống đã giao nộp đủ số lượng vải theo quy định để người chết yên tâm bước vào cuộc sống mới.

3. Vải thổ cẩm tự dệt (lan phái) đảm nhận những vai trò gì trong tang ma Thái?

Vải bông thô tự dệt (lan phái) xuất hiện xuyên suốt đám tang với nhiều công năng: vải trắng (cài phai) dùng để liệm thi thể, kê êm hai đầu quan tài, làm đồ tang xô gấu, làm cờ ma (co heo), viết giấy thông hành; vải hoa văn mặt chăn (na pha) dùng quây xung quanh quan tài, bọc đòn khiêng (máy dua), lợp nhà mồ; dải vải trắng lót mâm cúng Phi Táy; và sợi chỉ vải được sử dụng hơn 10 lần trong các nghi thức buộc chỉ cổ tay giữ vía cho con cháu và nối nhịp âm dương từ huyệt mộ lên cờ ma.

4. Khái niệm "Đẳm đọi ngoi phá" trong bài mo có vị trí như thế nào?

Đẳm đọi ngoi phá là địa danh nằm ở điểm tận cùng của vũ trụ (Mường Phạ), là nơi cư ngụ vĩnh hằng của linh hồn tổ tiên các dòng họ người Thái. Mục đích tối hậu của các bài mo dẫn đường là đưa hồn ma vượt qua hơn 30 cửa ải hiểm trở (như sông Nặm Ta Khái) lên Mường Then gạch tên trong sổ trần gian, sau đó trở về an ngụ tại Đẳm đọi ngoi phá để tiếp tục một cuộc sống lao động, sinh hoạt mới bên cạnh tổ tiên.

5. Mối quan hệ hỗn cư giữa người Thái và người Mường tại Mường Tấc ảnh hưởng thế nào đến tang ma?

Tại vùng lòng chảo Mường Tấc (Phù Yên), người Thái và người Mường (nhất là nhóm Mường Klêl và Mường Pi) cùng cộng cư lâu đời, tạo nên hiện tượng song ngữ, chia sẻ các yếu tố kiến trúc nhà sàn 4 mái, trang phục váy áo cóm và ẩm thực. Trong thực hành tang lễ, hai dân tộc có tập quán mượn thầy mo của nhau để cúng ma và làm lễ vía, dẫn đến sự tiếp biến và vay mượn ngôn ngữ, biểu tượng nghi lễ lẫn nhau.


Kết luận

Luận án của tác giả Lò Xuân Dừa là một công trình nghiên cứu chuyên khảo về tang ma của người Thái Trắng tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Bằng việc vận dụng khung lý thuyết chức năng tâm lý của Robert Hertz và Charles Keyes kết hợp với phương pháp điền dã dân tộc học thực chứng, luận án đã làm sáng tỏ quy trình tang ma như một tiến trình văn hóa chuyển hóa từ tử sang sinh nhằm tạo dựng cuộc sống mới cho người chết và tái lập ổn định tâm lý cho cộng đồng người sống. Công trình đã cung cấp nguồn tư liệu dân tộc học có giá trị cao, đóng góp thiết thực vào ngành nghiên cứu văn hóa dân gian, nhân học và công tác quản lý văn hóa phi vật thể tại địa phương.