Chương 1: Cơ sở lý luận và Tổng quan về người Chơ-ro ở Đồng Nai - Chương 2: Tín ngưỡng và nghi lễ nông nghiệp của người Chơ-ro ở Đồng Nai Truyền thống và biến đổi - Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy tín ngưỡng và nghi lễ nông nghiệp của người Chơ-ro ở Đồng Nai. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƢỜI CHƠ-RO Ở TỈNH ĐỒNG NAI 1. Thao tác hóa khái niệm Trong luận văn, tác giả nhận thấy có rất nhiều khái niệm cần phải làm rõ như về văn hóa, quản lý văn hóa, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, tín ngưỡng, nghi lễ,… vì vậy, việc thao tác hóa khái niệm là rất cần thiết nhằm đơn giản hóa các khái niệm theo các cấp độ khác nhau để cụ thể hóa thành các chỉ báo, các biến số tạo điều kiện cho luận văn có thể thu thập thông tin một cách hệ thống và chính xác. - Khái niệm về văn hóa Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và ClydeKluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu), địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,.và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau nên cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều. Theo Federico Mayor, Tổng Giám đốc UNESCO: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động.
Cách hiểu thứ hai này đã 11 được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên Chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise”. Tác giả Hồ Chí Minh quan niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [92, tr 4] Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả quan niệm văn hóa là tất cả những gì do con người làm ra, được thực hành trong hoạt động thực tiễn, có giá trị phù hợp với cộng đồng, được cộng đồng gìn giữ, sử dụng và lưu truyền.
Tác giả nhìn nhận lĩnh vực tín ngưỡng và nghi lễ nông nghiệp của người Chơ-ro ở Đồng Nai như là một lĩnh vực trong hệ giá trị văn hóa của cộng đồng người Chơ- ro. - Di sản văn hóa Di sản văn hóa được quy định tại Luật Di sản văn hóa năm 2011 (sửa đổi bổ sung năm 2009) bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. [62, tr 32-33] - Di sản văn hóa phi vật thể Công ước quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO được đưa ra tại cuộc họp đại hội đồng, phiên họp thứ 32 tại Pari từ ngày 29/9 đến 17/10 năm 2003 đã đưa ra công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Cụ thể như sau: “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, kỹ năng kèm theo đó là những công cụ, những đồ vật, đồ tạo tác và không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ.
12 Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tinh thần sáng tạo của con người. Từ định nghĩa trên, UNESCO xác định di sản văn hóa phi vật thể thể hiện ở những loại hình sau [104, tr 380]: + Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể. + Nghệ thuật trình diễn. + Tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội.
+ Tri thức và tập tục liên quan đến tự nhiên và vũ trụ. + Nghề thủ công truyền thống Ở Việt Nam, khái niệm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể được quy định tại điều 4 Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa như sau: “Di sản văn hóa phi vật thể là những sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn các hình thức khác”. [72, tr 40-41] Tại Điều 2 Nghị định 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di 15 sản văn hóa chia di sản văn hóa phi vật thể bao gồm bảy lĩnh vực là: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Nghề truyền thống; Tri thức dân gian. Trong đó, các lĩnh vực có thể hiểu như sau [97, tr 1]: 13 - Tiếng nói, chữ viết: Mỗi dân tộc đều có tiếng nói riêng của cộng đồng.
Nó được hình thành và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài người. Đối với chữ viết, có những dân tộc đã xuất hiện chữ viết từ xa xưa và phát triển hoàn thiện cho đến ngày nay, có những dân tộc cho đến nay, chữ viết cũng chỉ mới dừng lại ở hình thức sơ khai. Đó là đặc trưng riêng của mỗi dân tộc. - Ngữ văn dân gian: Bao gồm tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ.
Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian. - Nghệ thuật trình diễn dân gian: Đó là các loại hình nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian, trò chơi dân gian.); nghệ thuật trình diễn dân gian (múa dân gian, âm nhạc dân gian, các trò diễn,. - Tập quán xã hội và tín ngưỡng: Bao gồm các phong tục tập quán, các tín ngưỡng dân gian do cộng đồng sáng tạo ra từ lâu đời. - Lễ hội truyền thống: Các lễ hội truyền thống do cộng đồng sáng tạo ra qua quá trình hoạt động thực tiễn nhằm đáp ứng các nhu cầu về tinh thần của cộng đồng.
- Nghề thủ công truyền thống: Là các nghề sản xuất các vật dụng, công cụ lao động, sản phẩm thủ công mỹ nghệ,… đáp ứng nhu cầu sử dụng của cộng đồng. - Tri thức dân gian: Đó là các tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu.); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức về lao động sản xuất (kinh nghiệm sản xuất, kỹ thuật và công cụ sử dụng để sản xuất). Như vậy, so với định nghĩa của UNESCO đưa ra, định nghĩa về di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam có thêm hai loại hình là Lễ hội truyền thống và ngữ văn dân gian. Tuy nhiên, thực chất hai loại hình này chỉ là sự tách riêng từ năm loại hình do UNESCO đưa ra (Trong định nghĩa của UNESCO, Lễ hội là một bộ 14 phận của loại hình Tập quán xã hội, tín ngưỡng và lễ hội truyền thống; Ngữ văn dân gian là một bộ phận của nội dung Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể).
Sự tách ra này có mục đích làm rõ hơn các nội dung để các cơ quan tập trung hơn, quan tâm, nghiên cứu sâu. Một vấn đề khác, trong khái niệm của Việt Nam, một số nội dung rõ hơn và cụ thể hơn, phù hợp hơn với đặc điểm văn hóa của các cộng đồng cư dân ở Châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng. Điều này cũng giúp cho công tác nghiên cứu bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tốt hơn. Đó là xác định di sản tri thức dân gian bao hàm cả tri thức dân gian về tự nhiên và xã hội, không chỉ có tri thức về tự nhiên và vũ trụ.
Trong di sản tiếng nói, chữ viết và truyền khẩu dân gian cũng được tách ra để phân rõ từng nội dung cụ thể. - Khái niệm tôn giáo Trong các tác phẩm tiêu biểu như: Luận cương và Phoiơbách, Hệ tư tưởng Đức, Lời nói đầu. Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen; Chống Đuyrinh; Phoiơbách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức; Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo; Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo…, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra những quan niệm về nguồn gốc, bản chất, vai trò và chức năng của tôn giáo cũng như thái độ của Đảng công nhân đối với tôn giáo. Về nguồn gốc, bản chất của tôn giáo, C.Mác cho rằng: “Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”.