MỞ ĐẦU 1. Tóm tắt thực trạng sản xuất kinh doanh ở HTX Trong những năm qua tỉnh Bắc Kạn đang trên đà phát triển trong đó huyện Bạch Thông nói chung và xã Sỹ Bình nói riêng đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhìn chung đạt được một số kết quả nhất định, tạo bước chuyển biến mới trong phát triển kinh tế tại địa phương. Người dân đã nhận thức được việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế là rất cần thiết và đang tiếp tục, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã góp phần xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân. Hợp tác xã Bình Sơn là một trong những hợp tác xã có nhiều triển vọng của huyện Bạch Thông phát triển sản xuất rau sạch.
Đặc biệt, tháng 10/2016, HTX Bình Sơn đã được Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản, thủy sản Bắc Kạn (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm rau sạch của HTX ra thị trường, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho xã viên, là cơ sở tạo đà để HTX mở rộng, phát triển sản xuất. Với sự hỗ trợ của Liên minh HTX tỉnh, Hợp tác xã Bình Sơn được thành lập tháng 12/2015 với 18 thành viên, tổng diện tích canh tác 6,5 ha. Hoạt động theo đúng quy định của Luật HTX 2012; lĩnh vực hoạt động gồm phát triển rau màu, trồng thuốc lá, chăn nuôi hỗn hợp, dịch vụ xay sát, cung cấp vật liệu xây dựng.
Riêng hoạt động sản xuất rau của HTX bắt đầu từ tháng 8 năm trước đến tháng 2 năm sau, từ tháng 3 trở đi các thành viên phải dành quỹ đất để trồng thuốc lá vụ xuân do đã hợp đồng với công ty thuốc lá. Năm 2016, đơn vị đã tiến hành sản xuất rau vụ đông với quy mô lên đến 2,5 ha, tập trung vào những loại rau như: Cà chua, bắp cải, su hào. Từ tháng 9/2016, HTX đã có sản phẩm rau bán ra thị trường. Tính đến hết tháng 11/2016, HTX đã tiêu thụ được khoảng 10 tấn cà chua, 8 tấn su hào, 15 tấn bắp cải, thu nhập bình quân của mỗi thành viên đạt 4 - 5 triệu đồng/tháng.
Tổng doanh thu đạt 2.000 nghìn đồng ( chưa trừ chi phí), bình quân của lao động vào khoảng 36 triệu/năm. Mặc dù mới thành lập nhưng đã đạt được những kết 2 quả nhất định thể hiện ngành nghề đi đúng định hướng tạo thu nhập cho các thành viên và người dân trong khu vực. Hiện tại, rau của HTX Bình Sơn nói riêng và của xã Sỹ Bình nói chung tiêu thụ khá thuận lợi, được nhiều người tiêu dùng đánh giá cao. Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều trường hợp lợi dụng uy tín của rau sạch Sỹ Bình để buôn bán rau không rõ nguồn gốc; rau sạch của xã Sỹ Bình nói chung và của HTX Bình Sơn nói riêng đang trước nguy cơ mất uy tín nếu tình trạng này kéo dài.
Để tiến tới sản xuất bền vững, HTX Bình Sơn đang tính toán việc liên doanh, liên kết các hộ trồng rau trong vùng, hình thành một số tổ hợp tác tại những xã lân cận, quy hoạch lại quỹ đất sản xuất, xây dựng nhãn mác cho sản phẩm rau an toàn khẳng định thương hiệu sản phẩm. Tính cấp thiết của đề tài Dưa lê là loại trái cây phổ biến ở châu Á. Nó mang vị ngọt thanh mát, hấp dẫn thơm ngon và mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Quả dưa lê được sử dụng chủ yếu để ăn tươi, ép nước quả.
Giá trị dinh dưỡng của dưa lê phụ thuộc nhiều vào giống. Dưa lê chứa nhiều vitamin C và Potassium. Những giống có vỏ màu vàng như Cantaloupe chứa nhiều beta carotene, tiền tố của vitamin A và các chất khoáng như magie, natri… mà không phải loại hoa quả nào cũng có được. Với sự ra đời của nhiều giống dưa lê siêu ngọt tiến bộ được đưa vào áp dụng trong sản xuất hiện nay đã thúc đẩy thị trường tiêu thụ cũng như được nhiều nông dân các vùng quan tâm để thâm canh giống cây trồng này.
Trong kỹ thuật thâm canh tăng năng suất cây trồng nói chung và cây dưa lê nói riêng, việc không ngừng đầu tư cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật như giống, phân bón, bảo vệ thực vật, thuỷ lợi… đã làm tăng năng suất dưa lê không ngừng. Trong các yếu tố đó, phân bón là yếu tố vô cùng quan trọng đối với năng suất, phẩm chất dưa lê. Theo tính toán, tuỳ từng chân đất, loại cây trồng và vùng sinh thái, phân bón đóng góp từ 30 - 40% tổng sản lượng cây trồng, nhờ có bón phân mà năng suất, sản lượng cây trồng nói chung, cây dưa lê nói riêng tăng cao liên tục. Khảo sát thâm canh dưa lê ở tỉnh Bắc Kạn cho thấy hạn chế lớn nhất trong canh tác cây dưa lê là dư lượng nitrat quá cao, độ ngọt, độ thơm thấp, năng suất 3 chưa ổn định, khả năng chống chịu sâu bệnh kém.
Nguyên nhân do người nông dân thường sử dụng phân không cân đối giữa phân hữu cơ và phân vô cơ, có nhiều nơi họ không còn sử dụng phân hữu cơ nữa mà chỉ dùng phân vô cơ. Sử dụng nhiều phân vô cơ cho rau đặc biệt là phân đạm với liều lượng ngày càng cao, do vậy mà nền nông nghiệp nước ta đang phải đối mặt với những khó khăn như: chất lượng nông sản ngày càng giảm sút, nhiều loại nông sản không đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu, nhiều loại rau quả bị dư thừa nitrat, gây độc ảnh hưởng đến sưac khoẻ người tiêu dùng và không bảo quản chế biến được. Sử dụng ít phân hữu cơ chủ yếu là tận dụng nguồn phân tự có trong gia đình dẫn đến năng suất không cao và chất lượng rau quả không đảm bảo. Hiện nay nước ta gia nhập vào WTO nhà nước càng quan tâm đến chất lượng sản phẩm nhiều hơn, đặc biệt là chất lượng rau quả.
Do vậy nhà nước đã kêu gọi sự đầu tư từ trong nước cũng như nước ngoài về vốn, giống, khoa học kỹ thuật. Để cây dưa lê sinh trưởng phát triển tốt, đạt năng suất cao nhất, đòi hỏi phải cung cấp nguồn dinh dưỡng đầy đủ hợp lý. Vậy cần phải có nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây rau quả nói chung và cây dưa lê nói riêng. Xuất phát từ các vấn đề trên để đáp ứng yêu cầu của thực tế sản xuất để góp phần vào việc tìm hiểu nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón nói chung và phân hữu cơ nói riêng chúng tôi tiến hành đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống dưa lê Đài Loan tại tỉnh Bắc Kạn 1.
Mục tiêu đề tài. - Xác định được tỷ lệ thích hợp của phân chuồng đến sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống dưa lê Đài Loan vụ xuân hè năm 2017 tại tỉnh Bắc Kạn. 1 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến sản xuất kinh doanh tại HTX Bình Sơn Điều kiện tự nhiên: * Vị trí địa lý: xã Sỹ Bình nằm ở phía đông bắc của huyện Bạch Thông cách trung tâm huyện 10km + Phía đông giáp xã Vũ Muộn huyện Bạch Thông + Phía tây giáp xã Tân Tiến, thị trấn Phủ Thông huyện Bạch Thông + Phía nam giáp xã Nguyên Phúc, xã Cao Sơn huyện Bạch Thông + Phía bắc giáp xã Hương Nê và xã Lãng Ngâm huyện Ngân Sơn.
* Địa hình: Địa hình của xã Sỹ Bình là nơi hội tụ của hệ thống nếp lồi dạng cánh cung, bị chia cắt bởi hệ thống sông, suối, núi đồi trùng điệp thung lũng sâu tạo thành các kiểu hình khác nhau tương đối phức tạp, địa hình núi cao, độ dốc lớn bình quân 26 – 300, diện tích núi chiếm khoảng 90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất bằng chiếm khoảng 10%, thôn xa nhất cách trung tâm xã 10 km, giao thông đi lại được đầu tư loại đường cấp 5 qua trung tâm xã. Thủy văn chủ yếu là suối nhỏ, nguồn nước phục vụ sản xuất khó khăn, mùa khô gây ra hạn hán, mùa mưa gây nước lũ cục bộ. * Khí hậu: - Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông rét và ít mưa. Có thể chia thành hai mùa rõ rệt.
+ Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 có mưa nhiều + Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau * Thủy văn: Hệ thống thủy văn trên địa bàn xã chủ yếu là các con suối được phân bố khá dày đặc, song hầu hết đều ngắn lưu vực nhỏ, độ dốc dòng chảy lớn. Nhìn chung hệ 2 thống sông ngòi trên địa bàn xã được chi phối trực tiếp bởi cấu tạo địa hình. Về mùa mưa địa hình dốc lớn gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và sinh hoạt của người dân. Chế độ thủy văn của xã phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống sông suối, hồ đập trong khu vực của toàn xã và khu vực phụ cận, các khe nhỏ có độ dốc dọc, thủy văn lớn vì thế sau các trận mưa thường xảy ra lũ quét.[6] * Đất đai: - Tổng diện tích tự nhiên của xã: 2751,56 ha Trong đó: + Đất nông nghiệp: 2505,37 ha chiếm 91,05% + Đất sản xuất nông nghiệp: 397,21 ha chiếm 14,44% + Đất lâm nghiệp: 2106,17 ha chiếm 76,54% + Đất nuôi trồng thủy sản: 1,99 ha chiếm 0,072% + Đất phi nông nghiệp: 84,89 ha chiếm 3,09% + Đất chưa sử dụng: 161,3 ha chiếm 5,86% * Tài nguyên: Có nhiều diện tích rừng, núi đá, mỏ quặng sắt, khai thác tận thu gỗ phục vụ cho chế biến lâm sản đồ dân dụng bàn, ghế, giường tủ phục vụ cho nhu cầu nhân dân trong xã và ngoài xã.[6] Điều kiện kinh tế - xã hội: + Về dân cư: xã Sỹ Bình có 394 hộ gồm 5 dân tộc (Tày, Nùng, Dao, Kinh, Hoa), tổng dân số 1784 người, tổng số lao động 1300 người chiếm 72%.
Lao động tuổi từ 16 đền 30 chiếm 25%, lao động từ 31 đến 50 tuổi chiếm 65%, lao động từ 51 đến 60 tuổi chiếm 10%. Tổng số có 11 thôn bản, xã thuộc xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 CP giai đoạn II của Chính Phủ.