Ảnh hưởng của nhân tố sinh thái đến sinh trưởng cây quế tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

Nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố sinh thái đến sinh trưởng cây quế Cinnamomum cassia và bản đồ thích nghi trồng quế tại Kbang, Gia Lai.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

1999

76
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sinh trưởng cây quế tại huyện Kbang, Gia Lai. Cây quế (Cinnamomum Cassia Blume) được trồng thuần loài 7 tuổi trên đất Bazan, nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của cây. Tài liệu đã chỉ ra rằng, cây quế không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn giúp cải thiện môi trường sinh thái, chống xói mòn đất. Đặc biệt, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nhân tố sinh thái như độ cao, độ dốc và hướng dốc đều có tác động rõ rệt đến sự phát triển của cây quế. Theo đó, việc hiểu rõ các nhân tố sinh thái này sẽ giúp xây dựng bản đồ thích nghi cho việc trồng quế tại khu vực này.

II. Ảnh hưởng của nhân tố địa hình đến sinh trưởng cây quế

Kết quả nghiên cứu cho thấy địa hình không phải là nhân tố sinh thái chính, nhưng nó phân phối lại các nhân tố sinh thái khác và ảnh hưởng đến tiểu khí hậu. Các yếu tố như độ cao so với mặt biển, độ dốc và hướng dốc đã được khảo sát kỹ lưỡng. Kết quả cho thấy cây quế sinh trưởng tốt nhất ở các hướng dốc nhất định và ở độ cao phù hợp. Cụ thể, cây quế trồng ở hướng Bắc có đường kính và chiều cao lớn nhất so với các hướng khác. Điều này cho thấy rằng tác động môi trường từ địa hình là rất quan trọng trong việc tối ưu hóa sự phát triển của cây quế.

III. Đặc điểm sinh thái và điều kiện tự nhiên tại Kbang

Kbang có khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình hàng năm khá cao. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây quế. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng độ ẩm không khí và lượng mưa là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh trưởng cây quế. Đặc biệt, lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 12, với độ ẩm không khí trung bình năm lên tới 85%. Những điều kiện này không chỉ giúp cây quế phát triển tốt mà còn có tác dụng tích cực đến chất lượng sản phẩm thu hoạch.

IV. Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố hóa học của đất

Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các nhân tố hóa học của đất như độ pH, hàm lượng N, P, K dễ tiêu có tác động mạnh mẽ đến sinh trưởng cây quế. Đất Bazan tại Kbang có thành phần dinh dưỡng phong phú, phù hợp cho sự phát triển của quế. Kết quả cho thấy, hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng khác trong đất ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây quế. Việc phân tích các yếu tố này giúp xác định được những điều kiện tối ưu cho việc trồng quế và dự đoán sản lượng vỏ quế trong tương lai.

V. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân tố sinh thái có vai trò quan trọng trong việc quyết định sự sinh trưởng của cây quế tại Kbang. Để tối ưu hóa sản lượng và chất lượng quế, cần có các biện pháp quản lý rừng hiệu quả, bao gồm cả việc cải thiện điều kiện sinh thái và áp dụng các kỹ thuật canh tác hiện đại. Kiến nghị cho các nhà quản lý và nông dân địa phương là cần chú trọng đến việc bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái để cây quế có thể phát triển bền vững, từ đó nâng cao thu nhập cho người dân và bảo vệ môi trường.

07/01/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng của cây quế trồng cinnamomum casia bl và xây dựng bản đồ thích nghi trồng quế tại huyện kbang tỉnh gia lai

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TONG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Ông đã xây dựng cơ sở sinh thái học, xây dựng. các mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trưởng có thể định lượng bằng các phương pháp toán học phản ảnh các quy luật tương quan phức tạp trong tự. Những vấn để righien cứu sinh thái thực vật, sự thích nghỉ của thực vật ở các diéu kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng và chế.

Nhing nghiên cứu về cay quế trên thế giới còn rất ít, chủ yếu chỉ tap trung vào nghiên cứu giá trị được liệu được lấy từ vỏ cây.2 TRONG NƯỚC Nước ta từ năm 1960 tiến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học `ở:các Trường đại học, Viện khoa học và các cơ sở sản xuất đã nghiên cứu vé sinh thái và sinh trưởng của một số loài cây. Va Tiến Hinh(1987) (8]. Trên cơ sở nghiên cứu tăng trưởng đường kính, từ đó đưa ra phương pháp nghiên cứu sinh trưởng cây rừng. Nghiên cứu loài quế (Cinnamomum Cassia Bắc, Nam của Việt Nam, ông đã phân tích các mẫu vỏ của BL) ở cả 2 miền quế, nghiên cứu tương quan giữa độ dy của vỏ và sản lượng vỏ theo từng mét chigu cao của cây.

Nghiên cứu mối tương quan giữa sản lượng vỏ với đường kính chiều cao trung bình của cây. Tác giả đã rút ra kết luận là hàm lượng tỉnh cầu của vỏ tăng theo độ dây của vỏ. Công trình nghiên cứu này chủ yếu dừng, lại ở sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dâu. 'Bộ Lâm nghiệp (1990)(1].

Ban hành qui chế tam thời về trồng cây quế. Day là văn bản pháp qui đầu tiên, qui định các qui chế vẻ gây trồng cây quế ở nước ta. ‘Trin Gia Biểu (1991)(2). Nghiên cứu kỹ thuật tao cây con ở vườn ươm tác giả đã đưa ra được những biện pháp kỹ thuật tạo cây con và tiêu chuẩn cây con đem trồng.

Đã nghiên cứu đặc tính sinh vật học và đã đưa ra được một số đặc tính sinh vật học làm cơ sở xắc định kỹ thuật gây trồng loài cây này. Tiến sĩ Đỗ Dinh Sam và cộng sự (1990)(17][18]. Nghiên cứu xác định tiêu chuẩn và phan hạng đất trồng quế ở Quảng Nam-Đà Nẵng. Tác giả đã dựa vào 3 nhân tố là độ cao so với mắt biển, khí hậu và đất dé phân hạng đất trồng, qué ở Quảng Nam và Đà Nẵng.

V6 độ cao so với mặt biển ông đã chia ra 3 vùng : > 700m(vùng tối ưu), 300-700m (vùng thích hợp) và < 300m (vùng hạn chế). VE khí hậu Ong cũng chia ra 3 vùng có tiểu khí hậu khác nhau : Nhiệt độ trung bình năm 20. 'Về đất : Vùng có độ dây tầng đất > 50em (tối ưu), 30-50cm (Thích hợp) và < 30em(vùng hạn chế ) và một số yếu tố khác của đất. Chúng tôi đã dựa để phan hang đất trồng quế ở KBang.

vào cách phân chia trên của Tiến sĩ Sâm Va Duy Thông (1993)/23]. Báo cáo bước đầu thực nghiệm gieo ươm và trồng rừng đối với loài cây quế tại trung tâm thực nghiệm Lâm nghiệp Kon Hà. Tác giả đưa ra nhận xét quế trồng ở Kon Hà Nimg dat tỷ lệ sống cao và sinh trưởng bình thường. ‘Vuong Văn Quỳnh, Phùng Ngọc Lan (1994)(16].

Nghiên cứu khả năng iif nước bảo vệ đất của các mô hình canh tác cây quế ở hộ gia đình tại Hàm Yen, Tuyên Quang cho thấy tác dụng chống x6i mòn bảo vệ đất của quế rất tốt và để nghị có thé ding quế làm cây che phủ đất chống xói mòn. Nguyễn Thanh Phương (1994)(15]. Nghiên cứu di thực cây quế từ Trà Bồng Quảng Ngãi về vùng núi An Lão tỉnh Bình Định cho thấy hàm lượng tinh dâu trong vỏ thay đổi khi di chuyển từ Tr Bồng về An Lão. Phạm Xuân Hoàn (199599).

Đã xây đựng biểu cấp đất, biểu dự đoán sản lượng vỏ quế theo các cấp đất va theo các độ tuổi cho quế trồng thuần loài ở Van Yen tỉnh Yên Bái. Trấn hữu Dao (1995)5]. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh doanh. trồng quế của hộ gia đình tại Van, Yên tỉnh Yen Bái.

Tác giả đã rút ra kết luận kinh doanh quế ]uôn có lãi và sâu thời gian 3 năm 2 tháng đã cho thu hồi vốn. Tìm hiểu khả năng thích ứng của quế giai đoạn vườn ươm và giai doar time mới trồng tại Hùng sơn- Đại Từ, Chợ Mới - Phú Luong Tinh Bắc Thái lầm: cơ sở ban du cho quá trình mở rộng vùng quế & day, trên quan điểm sinh trưởng. “Tom lại cây quế (Cinnamom Cassia BL) ở Việt Nam các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trên một số vùng khác nhau nhưng từ tước tới nay chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu những nhân tổ sinh thái ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây quếở vùng này.3- MỘT SỐ DẪN LIỆU VỀ CÂY QUE (CINNAMOMUM CASSIA BL) Theo Lê mộng Chân, Vũ văn Dũng (1972)(4] và Ngô quang Dé (192/6. Phan loại, hình thái, giá tri sử dụng.

~ Phân loại : Ten Việt Nam: Quế Đơn, Quế Bà "Tên khoa học : Cinnamomum Cassia Blume Họ ¡ Lauraceae - Hình thái: Cay nhỡ cao trung bình 12-15m, đường kính 30-40em, vỏ. nứt thành vay nhỏ, có mùi thơm nồng, cành nori vuông cạnh mầu xanh nhạt, lá đơn mọc cách hoặc gần đối, lá day nhấn, có 3 gân xuất phát từ gốc lá gắn. song song với nhau, cả 3 gân hoặc chỉ gân giữa bơi lõm ở mặt lá và vết nổi rõ ở lưng lá, nách gân không có tuyến. Ra hoa tháng 5-6, quả chín tháng 3-4 năm sau.

Quả hình trái xoan khi chín mầu tím than, tím thắm. - Sinh thái: Quế phân Đố tự nhiên ở vùng nhiệt đới, tập trung nhiều ở Đông Nam Châu 4 (Thái Lá, Miễn nam Trung Quốc, Mianma, Mã Lai, Xrilanka, Việt Nam). ‘Thich hợp khí htt: có nhiệt độ trung bình năm 20-24%, lượng mưa trung, > 2000 mmy/na\ phân bố theo mùa, độ ẩm không khí. >85% tình Thich hợp đất Feralit có độ dây >50 cm, tốt, xốp, ẩm, thoát nước còn tính chất dat rừng, thành phần cơ giới sét pha nhẹ, độ pH = 4-5 phát trign trên.

các loại đá me Riolit, phiến thạch Mica, Bazan wv. ‘Thich hop địa hình có độ dốc < 25”, độ cao> 700m so với mặt biển. Quế không thích hợp nơi có nhiệt độ không khí trung bình năm trên 24”, độ ẩm tương đối không khí dưới 85%, trên đất đã mất tinh chất đất rừng, gi ứng triing, bí chặt, đất nghèo xấu, tầng mặt mỏng và nhiều đá lẫn. Qué là cây trung tinh, dưới 4 tuổi đòi hỏi sống ở độ tàn che 0,4-0,5 chịu máng nóng kém, từ 5 tuổi trở lên đồi hỏi ngoài sáng.

Quế sinh trưởng quanh. năm song mạnh nhất vào mùa mưa, sinh trưởng chiểu cao bình quân năm 0; 1.0m, đường kính 0,6- 1,0em. Quế có khả năng tái sinh bằng hat và bằng ch Cay từ 6-7 tuổi bất đầu ra hoa kết quả. Để thu hat giống chọn cây mẹ > 15 tuổi, than thẳng cao to, vb dy, tỷ lệ dầu cao, tia cành tự nhiên tốt và không sâu bệnh.

'Quế ra hoa tháng 5-6, quả chín tháng 3-4, chu kỳ sai quả 3-4 năm, quả chín khi màu quả chuyển từ mầu xanh sang mầu tím than. Ủ quả 2-3 ngày cho. chín đều, thịt quả mềm, sát nhẹ, đãi lấy hạ tốt. Hạt quế có dầu rất khó bảo quản, sau thu hái nên gieo ngay, nếu chưa gieo ngay có thể bảo quản theo phương pháp cất trữ ẩm và thoáng khí.

Một kg hạt quế có thể cho 1200-1500 cây đủ tiêu chuẩn đem trồng. “Trồng rừng quế thông thường bằng cây con có bau, tiêu chuẩn cây con đem trồng có tuổi 9-12 tháng; chiều cao 20-25cm, đường kính cổ rễ 5-6mm. Mật độ trồng 2500-5000 cây/ha. Chăm sóc sau khi trồng phải tiến hành liên tue từ sau khi trồng cho tới khỉ khai thác.

Từ năm thứ nhất đến năm thứ tr: Làm cỏ xới đất, phát day/ le, thảm tươi mỗi năm 2 lần. Từ năm thứ 5 đến năm thứ 10 phát luỗng day feb thảm tươi mỗi năm 1 lần. Từ năm thứ 11 cho tới khi khai thác 1-2 năm 1 lần phát day leo thảm tươi. Đồng thời với chăm sóc trên, từ năm thứ 1 đến năm thứ 5 phải điều chỉnh độ tin che cho phù hợp yêu cầu ánh sáng của cây trồng.

Từ năm thứ 1, thứ 2 giữ độ tàn che 0,4, năm thứ 3 độ tàn che 0,3, năm thứ 4 là 0,2, năm thứ 5 mở tấn hoàn toàn. Ring quế trồng trên 20 tuổi có thể khai thác. Ở tuổi 20, một ha trung. bình cho 5 tấn quế thanh và 7 tấn quế chỉ.

Trong quá trình nuôi dưỡng có thể tia thưa 2 lần, lần 1 vào tuổi 10, lần 2 ở tuổi 15, cường độ tỉa 30-50% số cây trong lâm phần. Quế thường được khai thác trắng, sau đó có thể kinh doanh ch6i hoặc trồng lại rừng. Giá trị sử dụng : Vỏ qué là mặt hàng xuất khâù có giá trị kinh tế cao, các bộ phận khác của cây quế (thân, cành, lá, rễ) đều có thể cất tỉnh đầu quế. ding trong y dược, công nghệ nước hoa, xà phòng, thực phẩm wy.

Quế sau khi trồng 7-10 tuổi có thể tỉa thưa, 15-20 tuổi có thể khai thác chính một cay trung bình cho 2-3 triệu đồng. CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, PHAM VI NỘI DUNG VA PHƯƠNG PHAP NGHIÊN CCU 2.1 - ĐỐI TƯỌNG NGHIÊN CUU 'Đổi tượng nghiên cứu là cây quế (Cinnamomum Cassia Blume) thuộc. họ Lauraceae gây trồng thuần loài 7 tuổi 2.2 - MỤC TIÊU CUA ĐỀ TÀI Nghiên cứu sinh trưởng của qué trồng thuần loài 7 tuổi trên đất Bazan & huyện KBang dưới ảnh hưởng của một số nhân (6 địa hình, một số nhân tố hóa học đất làm cơ sở khoa học để xây dựng. bản đồ thích nghỉ trồng quế trên.đất Bazan ở huyện KBang và dự đoán sản lượng vỗ quế trồng thuần loài 7 tuổi trên đất Bazan ở huyện KBang.3 - PHAM VI NGHIÊN COU.

Nghiên cưú một số nhâo tố sinh thái (độ cao so với mặt biển, độ đốc, hướng đốc) một số đặc tính Của đất (độ pH, hàm lượng Min, N, P, K dé tiêu) phát triển trên đá mẹ Bazan ảnh hưởng đến sinh trưởng của quế trồng thuần loài ở giai đoạn dưới 7_ mổi ở KBang và xây dựng bản đồ thích nghỉ trồng quế. trên đất Bazan ở huy3fƒ€Hang tinh Gia Lai 2.4 - NỘI DUNG NGHIÊN COU Để tài nghiên cứu một số nội dung chủ yếu sau đây: ~ Nghiên cứu sinh trường của quế trồng thuần loài 7 tuổi trên đất Bazan 'về đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn, thể tích, đường kính tán lá, hệ rễ, dưới ảnh hưởng của địa hình (độ cao so với mat biển, độ đốc, hướng đốc).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Ảnh hưởng của nhân tố sinh thái đến sinh trưởng cây quế tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai" nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố sinh thái đến sự phát triển của cây quế, một loại cây có giá trị kinh tế cao tại khu vực này. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố như đất đai, khí hậu và nước, từ đó giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nông lâm nghiệp. Bài viết không chỉ mang lại kiến thức bổ ích cho những ai làm trong lĩnh vực lâm nghiệp mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng.

Để mở rộng hiểu biết của bạn về những chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu bảo tồn các loài cây họ Ngọc Lan (Magnoliaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa, trong đó cũng đề cập đến các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cối. Bên cạnh đó, bài viết Khả năng giữ nước của đất dưới các trạng thái thảm thực vật tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, Hòa Bình sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của đất trong việc hỗ trợ sự phát triển của thực vật. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ về sinh thái tái sinh quần thể trai Fagraea fragrans ở khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu cũng mang đến những thông tin giá trị về sinh thái và sự phát triển của các loài cây trong môi trường tự nhiên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố sinh thái trong lâm nghiệp.