ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là yếu tố cơ bản của môi trường, giữ vai trò quan trọng không gì thay thế được đối với việc phòng hộ, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ tính đa dang sinh học, bảo tổn nguồn gen, cung cấp nhiều loại lâm sản.đáp ứng những nhu cầu cơ bản ngày càng cao của con người. Theo xu hướng phát triển của xã hội, kiến thức về rừng của con người ngày càng sâu sắc hơn, quan điểm và mục tiên sử dụng rừng ngày một đúng din và toàn diện, các biện pháp sử dung timg cũng dần dan được hoàn thiện. Tuy nhiên, những đổi mới và tiến bộ chưa kịp thời và chưa đủ sức ngăn chặn nạn suy thoái rừng, gây ra những nguyên nhân mang tính xã hội. Trong hơn $0 năm qua, xu thế mất rừng đã diễn ra liên tục trên phạm vi cả nước ta với mức độ khác nhau: Đặc biệt ở hai tỉnh Sơn La, Lai châu độ che phủ của rừng có lúc chỉ còn 8-9% (Lam nghiệp Việt nam-1945-2000) Điện tích rừng bị mất làm cho chất lượng rừng bị suy giảm cả về tổ thành các loài cây quý hiếm có giá trị cũng như tổng trữ lượng gỗ của rừng.
Ngoài ra, nan mất rừng din “tiên tục tong nhiều thập kỷ qua đã làm cho nhiều khu rừng lớn bị chia cắt thAnh (ừng mảnh rừng nhỏ hoặc bị khai thác quá mức làm mất cấu trúc rừng, hoặc cấu trúc của rừng đã biến đổi theo chiều hướng xấu. "Việc mất rừng không chỉ làm cho diện tích dat trống đổi núi trọc tăng lên, làm suy giảm tính đa dạng sinh học, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dan trên mọi miền đất nước như: Thiếu nước sản xuất, khí hậu biến đổi, hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra. Chính vì thế nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải khôi phục lại những diện tích rừng hiện có bằng những biện pháp hữu hiệu nhất là bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi rừng, tái sinh nuôi dưỡng rừng, làm gidu rừng và trồng rừng hợp lý, nhằm hạn chế tốc độ suy thoái cả về số lượng và chất lượng của rừng, và đó cũng là những biện pháp kỹ thuật quan trọng trong kinh doanh rừng. Việc để xuất các phương thức bảo vệ rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, làm gidu rừng, ti sinh nuôi dưỡng và trồng rừng hợp lý là vấn để sống còn trong việc sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng một cách bên vững lâu dai.
Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới mưa mùa có tiểm năng to lớn trong việc khôi phục và phát triển rừng theo hướng ổn định bén vững và có giá tri kinh tế cao. Đó là những thuận lợi về điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng cho phục hồi những hệ sinh thái rừng có cấu trúc phức tap, bao gồm nhiều loài cây, khác tuổi, nhiều tầng. Lợi dụng kha năng tái sinh phục hồi rừng tự nhiên. nhiều nơi đã áp dụng thành công khoanh.
nuôi phục hồi rừng với những nội dung ky thuật lâm sinh phù hợp. Vấn để dat ra là phải xây dựng một mô hình cấu trúc như thể nào cho hợp lý nhằm phát tiển vốn rừng, nâng cao khả năng tự bảo vệ của rừng (đứng trên quan điểm sinh thái học). Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu dù sao cũng còn qiấ-ít trước một đối tượng là rừng nhiệt đối thường xanh phong phú da đạng của nước ta. Một trong những vấn để cần được nghiên cứu, là tim hiểu quy luật vé cấu trúc của rừng lầm cơ sở để xuất các biện pháp kỹ thuật lãi sinh hợp lý, nâng cao hiệu quả của rừng phục hồi.
Tà Hoc là xã thuộc buyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, có điện tích tự nhiên 1499 ha, diện tích có rừng che phủ chiếm 38%. Từ những năm 1990, Tà Hoe đã đẩy mạnh công tác khoanh núi nuôi rừng, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ xung nhằm không những giữ và nâng cao chất lượng của điện tích rừng hiện có, mà còn góp phần cải thiện môi trường sinh thấi, nang cao tuổi thọ lòng hồ Sông Đà và an toàn cho nhà máy thuỷ điện Hoà Bình. Tuy nhiên, có tác giả nào nghiên cứu về vấn để này. cho đến nay chưa Xuất phát từ thực tế đó, kết hợp với kiến thức đã học tập ở nhà trường và đỡ của các Thầy, Cô giáo, tôi đã tiến hành dé tài "Nghién cứu cấy với sự giúp trúc rừng tự nhiên phuc hồi xã Tà Hoc, huyện Mai Sơn, tink Sơn La".
Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để xuất các biện pháp nuôi dưỡng rừng, làm gidu rừng tại xã Tà Hộc, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Chương 2 TONG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN COU 2. Lich sử nghiên cứu Vige nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên được nhiều tác giả trong và ngoài nước để cập đến từ những năm đầu của thế kỷ 20, Nhìn chung, các tác giả đều quan tâm đến việc xây dựng một mô hình rừng chuẩn, phụ vụ công tác kinh doanh rừng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu về kinh tế, xã hội và sinh thái: Những nghiên cứu về cấu trúc bước đầu là định tính, mô tả, nay đã chuyển šahg nghiên cứu định lượng chính xác với sự ứng dụng của toán thống kê và tin học. Định hướng nghiên cứu cấu trúc sinh trường và sản lượng rừng đã được các nhà khóa học khái quất lại dưới dạng mô inh toán học, từ đơn giản đến phúc tap itm định lượng hoá các quy luật của tự nhiên, nhờ đồ đã giải quyết được nhiều vấn để trong kinh doanh rừng, đặc biệt là trong lĩnh vực lập biểu chuyên dụng phục vụ cho công tác điều tra và dự đoán sin lượng cũng như xây dựng hệ thống các biện pháp kinh đoanh nuôi dưỡng, làm giàu rồng cho từng đối tượng cụ thé, 2.1 Ở nước ngoài 2d Về cơ sở sinh (iat của cấu trúc rừng, "Nhiều nhà khoe bọc đã nghiên cứu cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng, mà tiêu biểu là Baur G.P (1971) [20] các tác giả đã để cập các vấn 48 sinh thái nói chung và sinh thái cho kinh doanh rừng mưa nói riêng.
Qua đó làm sáng tỏ khái niệm về hệ sinh thái rừng, day là cơ sỡ để xem xét các nhân tổ cấu trúc đứng trên quan điểm sinh thái học, 2.2 Về hình thái cấu tric rừng mưa Rừng mưa nhiệt đới đã được nhiều nhà khoa học đi sau nghiên cứu, như: đã biểu diễn hình thái cấu trúc rừng ‘Catinot R. Các tác giả bằng những phẫu điện đồ ngang và đứng. Các nhân tố cấu trúc được mô tả theo các. khái niệm: dang sống, tầng phiến.
Roilet (1971) [39] đã đưa ra hàng loạt phẫu đồ mô tả cấu trúc hình thái rừng mưa, như tương quan giữa chiều cao với đường kính D,„, tương quan giữa đường kính tén với đường kính D, , và biểu điển chúng bằng các hầm hồi quy.W(1952) [25] đã phân biệt tổ thành thực vật rừng mưa thành hai loại rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây rất phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản. Trong những lập địa đặc biệt thì rừng mum đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây. Những nghiên cứu về các lĩnh vực trên đã dat nến mồng cho các nghiên cứu ứng dụng sau này, tuy nhiên các kết quà tren vẫn nặng về mô tả định tính.3 Về phản loại rừng phục vụ kink doank Việc phân loại rừng nhằm mục tiêu xác định các dom vị kinh doanh rừng, tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh lợi đọng rừng đại biệu quả cao. Trên thế giới có nhiều trường phái phân loại rừng khác nhau như: Trường phái Liên Xô cũ và một số nước Đông Âu, trường phái Bắc Âu, trường phái Mỹ, trường phái Canada.
Mỗi trường phái tuỳ thuộc vào kiểu Từng và mục đích kinh doanh mà lựa chọn nhân tố chủ đạo phân loại khác nhau (Phùng Ngọc Lan -1986) [16] 2.14 VE nghiên cứu dink lượng cấu trúc rừng : “Trong những nghiên cứu về rừng tự nhiên thì vấn để nghiên cứu định lượng quy luật phân bố số cây theo citing kính D,., phân bố số cây theo chiếu cao, phân chia tầng thứ được nhiều Ac gi bực hiện có hiệu quả. Ngoài việc phản ánh cấu trúc nội tại của lâm phần làm cân cứ để xuất các biện pháp kinh doanh, còn làm cơ sở để xây. cdựng các phương pháp điều tra và thống kê tài nguyên rừng, * VÉ cấu tric tầng thứ. "Nghiên cứu cấu trúc tầng thứ rừng tự nhiên có nhiều ý kiến khác nhau, có tác giả cho rằng, ở kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi.
Ngược lại, có nhiều túc giả lại cho rằng, rừng lá rộng thường xanh thường có tờ 3 đến 5 tắng. Richards (1939) phân rừng ở Nigeria thành 5-6 ting. Tuy nhiên, hẩu hết các tác giả khi nghiên cứu tang thứ rừng tự nhiên đều nhắc đến sự phân tầng nhưng mới ding lại. mức nhận xét hoặc đưa ra những kết luận mang tính định tính; việc phân chia các tầng theo chiều cao cũng mang tinh chất cơ giới, chứ chưa phin ánh được sự phân tầng phúc tạp của rừng tự nhiên nhiệt đổi * Về phản bố số cây theo cỡ đường kính (NID, 5) "Phân bố số cây theo cỡ đường kính là quy luật kết cấu cơ bản của lâm phần và được các nhà lâm học, điều tra rừng quan tâm.
Meyer (1934) đã mô tả phân bố N/D, bing phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer. Tiếp đó, nhiều tác giả dùng phương pháp giả tích để tim phương trình của đường cong phân bốc alley(1973) [36] sử dụng hàm ‘Weibull, Schiffe! biểu thị đường cong cộng dén” phần trăm số cây bằng đa thức bậc ‘ba. M và Patatscase (1964), Bill và Ket K. đã tiếp cận phân bố nay bằng phương trình logarit chính thái.N sử dụng phân bố Gamma biểu thị phân bố số cây theo đường kính làm phẫn Thong on đới.
Đặc biệt để tang tính mềm đềo một số tác giả hay dùng các hàm khác, như Loetsch (1973) dùng him Beta để nắn các phân bố thực nghiệm, J.Z Docowto (1992) trong khi nghiên cứu 19 6 tiêu chuẩn với 60 loài của rừng nhiệt đới ở Maranhoo-Brazin đã dùng hàm Weibull mô phỏng phân bố N/D. Nhiều tác giả khác dùng hàm Hyperbol, hầm Poisson, hàm Logarit chitin, họ Pearson, hàm Weibull. * Về phân bố số cây theo Chiều cao (NIH): Phin lớn các tác siÄ khi nghiên cứu cấu trúc lâm phần theo chiểu thẳng đúng.đã dua vào phân bế tố cấy leo chiều cao. Phương pháp kinh điển nghiên cứu cấu trúc đứng rừng tự nhiên Ti vẽ các phẫu diện đổ đứng với các kích thước khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu.