Khóa luận ảnh hưởng của phân bón đến cây lan phi điệp tại ĐH Nông Lâm

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón đến sinh trưởng cây lan phi điệp Dendrobium anosmum tại vườn lan Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Trường đại học

Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2020

57
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về khóa luận nghiên cứu phân bón cho lan phi điệp

Cây lan phi điệp (Dendrobium anosmum) là loài lan rừng quý được nhiều người ưa chuộng. Khóa luận nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón đến sinh trưởng của cây lan phi điệp thực hiện tại vườn lan trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đề tài do sinh viên Ma Thị Thùy Nết thực hiện, dưới sự hướng dẫn của ThS. La Thu Phương. Nghiên cứu thuộc chương trình đào tạo chính quy, chuyên ngành Lâm nghiệp, khóa học 2016-2020. Mục tiêu chính là xác định loại phân bón phù hợp nhất giúp cây lan phát triển tốt. Ba loại phân bón được đưa vào thử nghiệm gồm Super Hume, NPK và phân hữu cơ. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm số chồi, chiều cao chồi, đường kính gốc, số rễ và động thái ra lá. Thời gian thí nghiệm kéo dài 150 ngày. Vườn lan tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc là địa điểm bố trí thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc chăm sóc lan phi điệp. Đề tài cũng kế thừa nhiều nghiên cứu trước về nhân giống và nuôi cấy mô lan rừng tại Việt Nam.

1.1. Bối cảnh và mục tiêu nghiên cứu

Lan phi điệp thuộc nhóm lan rừng có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam. Nhu cầu trồng và nhân giống loài lan này ngày càng tăng. Tuy nhiên kỹ thuật chăm sóc, đặc biệt là chế độ phân bón, chưa được nghiên cứu đầy đủ. Khóa luận đặt mục tiêu xác định loại phân bón tối ưu cho sinh trưởng của cây. Nghiên cứu tập trung so sánh ba loại phân bón phổ biến. Kết quả giúp người trồng lan lựa chọn phương án chăm sóc hiệu quả. Đề tài cũng góp phần bổ sung tài liệu khoa học về canh tác lan phi điệp tại khu vực miền núi phía Bắc.

1.2. Đối tượng và phạm vi thực hiện

Đối tượng nghiên cứu là cây lan phi điệp (Dendrobium anosmum) trồng tại vườn lan trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Phạm vi thí nghiệm giới hạn ở ba loại phân bón: Super Hume, NPK và phân hữu cơ. Công thức đối chứng không sử dụng phân bón cũng được thiết lập để so sánh. Thời gian thực hiện thí nghiệm là 150 ngày liên tục. Các chỉ tiêu sinh trưởng được đo đếm định kỳ theo từng giai đoạn phát triển của cây. Địa điểm thí nghiệm thuộc Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng lan phi điệp

Sinh trưởng của lan phi điệp chịu tác động của nhiều yếu tố. Phân bón là yếu tố quan trọng hàng đầu trong nghiên cứu này. Mỗi loại phân bón mang thành phần dinh dưỡng khác nhau. Super Hume chứa axit humic giúp kích thích rễ phát triển. NPK cung cấp đạm, lân, kali cân đối cho cây. Phân hữu cơ bổ sung chất mùn và vi sinh vật có lợi. Công thức đối chứng không bón phân cho kết quả sinh trưởng thấp nhất. Số liệu theo dõi cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức thí nghiệm. Chiều cao chồi, đường kính gốc và số rễ đều biến động theo loại phân bón sử dụng. Tình hình sâu bệnh hại trong quá trình thí nghiệm ở mức không đáng kể. Các biện pháp phòng trừ được áp dụng tốt giúp hạn chế thiệt hại. Kết quả phân tích số liệu là cơ sở để đánh giá hiệu quả từng loại phân bón. Việc phân tích này giúp xác định phân bón nào phù hợp nhất với điều kiện vườn lan tại Thái Nguyên.

2.1. Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao và đường kính gốc

Chiều cao chồi và đường kính gốc là hai chỉ tiêu sinh trưởng quan trọng. Công thức sử dụng Super Hume cho chiều cao chồi vượt trội so với các công thức khác. Đường kính gốc cũng tăng nhanh hơn ở công thức này. Công thức NPK đứng thứ hai về mức độ sinh trưởng. Phân hữu cơ cho kết quả khá nhưng chậm hơn hai loại trên. Công thức đối chứng không bón phân có chiều cao và đường kính thấp nhất. Sự khác biệt giữa các công thức thể hiện rõ sau nhiều giai đoạn theo dõi liên tiếp.

2.2. Ảnh hưởng của phân bón đến số chồi và động thái ra lá

Số chồi và số lá là chỉ tiêu phản ánh sức sinh trưởng tổng thể của cây. Công thức sử dụng Super Hume đạt số lá cao nhất, lên tới 11,42 lá. Công thức đối chứng không sử dụng phân bón chỉ đạt 1,3 lá. Số chồi cũng tăng đáng kể ở các công thức có bón phân. Chất lượng chồi cải thiện rõ theo từng giai đoạn thí nghiệm. Tỷ lệ cây có chất lượng trung bình cao nhất rơi vào công thức đối chứng. Kết quả này khẳng định vai trò thiết yếu của phân bón đối với sinh trưởng lan phi điệp.

III. Phương pháp bố trí thí nghiệm phân bón cho lan phi điệp

Nghiên cứu áp dụng phương pháp thí nghiệm so sánh nhiều công thức phân bón. Bốn công thức thí nghiệm được bố trí song song. Ba công thức sử dụng Super Hume, NPK và phân hữu cơ. Công thức thứ tư là đối chứng, không sử dụng phân bón. Mỗi công thức được lặp lại nhiều lần để đảm bảo độ tin cậy số liệu. Các chỉ tiêu sinh trưởng được đo đếm định kỳ trong suốt 150 ngày. Phương pháp thu thập số liệu tuân theo quy trình lâm nghiệp thực nghiệm chuẩn. Số liệu sau khi thu thập được xử lý thống kê để so sánh giữa các công thức. Phương pháp này giúp xác định chính xác loại phân bón tối ưu. Quy trình chăm sóc, tưới nước và phòng trừ sâu bệnh được áp dụng đồng đều cho tất cả công thức. Điều này đảm bảo yếu tố phân bón là biến số quyết định duy nhất trong kết quả so sánh.

3.1. Bố trí công thức thí nghiệm

Thí nghiệm gồm bốn công thức, ký hiệu CT1 đến CT4. CT1 sử dụng phân bón Super Hume. CT2 sử dụng phân bón NPK. CT3 sử dụng phân hữu cơ. CT4 là công thức đối chứng, không bón phân. Mỗi công thức áp dụng trên số lượng cây lan phi điệp tương đương nhau. Điều kiện ánh sáng, độ ẩm và giá thể trồng được kiểm soát đồng nhất giữa các công thức. Cách bố trí này giúp loại trừ sai số do yếu tố môi trường bên ngoài.

3.2. Thu thập và xử lý số liệu

Số liệu được thu thập định kỳ theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây. Các chỉ tiêu đo gồm chiều cao vút ngọn, đường kính gốc, số chồi, số rễ và số lá. Dữ liệu ghi nhận được tổng hợp vào bảng biểu theo từng công thức thí nghiệm. Phương pháp thống kê được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các công thức. Kết quả xử lý số liệu là căn cứ khoa học để đánh giá hiệu quả từng loại phân bón đối với sinh trưởng lan phi điệp.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn trong trồng lan phi điệp

Kết quả nghiên cứu khẳng định phân bón Super Hume mang lại hiệu quả sinh trưởng tốt nhất cho cây lan phi điệp. Chỉ tiêu chiều cao chồi, đường kính gốc, số rễ và số lá đều đạt mức cao nhất ở công thức này. Phân bón NPK và phân hữu cơ cũng cho kết quả tích cực, phù hợp với điều kiện kinh tế hạn chế hơn. Công thức đối chứng không bón phân cho kết quả sinh trưởng thấp nhất ở hầu hết chỉ tiêu. Tình hình sâu bệnh hại trong suốt quá trình thí nghiệm ở mức không đáng kể. Đề tài còn tồn tại một số hạn chế. Nghiên cứu mới chỉ thử nghiệm ba loại phân bón. Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sinh trưởng chưa được đánh giá đầy đủ. Khuyến nghị đưa ra là nên ưu tiên sử dụng Super Hume nếu điều kiện kinh tế cho phép. Trường hợp hạn chế về chi phí, có thể thay thế bằng NPK hoặc phân hữu cơ. Cần tiếp tục thử nghiệm thêm nhiều loại phân bón khác trong các nghiên cứu tiếp theo.

4.1. Kết luận chính từ kết quả thí nghiệm

Phân bón Super Hume là lựa chọn tối ưu cho sinh trưởng của cây lan phi điệp tại vườn lan. Cây đạt chiều cao chồi, đường kính gốc, số rễ và số lá cao nhất khi sử dụng loại phân này. Phân bón NPK và phân hữu cơ cũng góp phần cải thiện sinh trưởng đáng kể so với công thức không bón phân. Công thức đối chứng cho thấy vai trò thiết yếu của phân bón trong quá trình chăm sóc lan. Sâu bệnh hại không phải là yếu tố ảnh hưởng lớn nhờ áp dụng tốt biện pháp phòng trừ trong suốt thí nghiệm.

4.2. Khuyến nghị ứng dụng cho người trồng lan

Người trồng lan phi điệp nên ưu tiên sử dụng phân bón Super Hume trong giai đoạn sinh trưởng đầu để đạt hiệu quả cao nhất. Nếu điều kiện kinh tế hạn chế, có thể thay thế bằng phân bón NPK hoặc phân hữu cơ với chi phí thấp hơn. Cần tiếp tục nghiên cứu thêm các loại phân bón khác để mở rộng lựa chọn. Đánh giá thêm yếu tố môi trường như ánh sáng và độ ẩm cũng cần thiết. Những khuyến nghị này giúp nâng cao hiệu quả canh tác lan phi điệp tại các vườn lan tương tự.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/05/2026
Khóa luận nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón đến sinh trưởng của cây lan phi điệp dendrobium anosmum tại vườn lan trường đại học nông lâm thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lan là một trong thế giới các loài hoa, hoa lan là một trong những loài hoa đẹp nhất. Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang vua của các loài hoa. Hoa lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình dáng, cái đẹp của hoa lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao nhã đến những dạng hình thân lá, cành duyên dáng ít có loài hoa nào sánh nổi.

Những năm gần đây, ở khắp nước ta, rất nhiều người có cái thú vui chăm sóc một chậu phong lan ở ngay nơi mình sống. Người có điều kiện kinh tế dồi dào, đất đai rộng, thì lập một vườn Hoa lan có đầy đủ giàn treo, các phương tiện gây trồng, chăm sóc và có thể kinh doanh một phần. Ngừời sống nơi chật hẹp, thì chỉ cần một chút nhỏ không gian đủ treo một vài giò phong lan, có thể nơi cửa sổ, cạnh lối đi. Chi lan hoàng thảo (Dendrobium) là một chi lớn trong họ lan (Orchidaceae) trên thế giới có đến 1600 loài phân bố trải dài từ Triều Tiên, Nhật Bản qua Đông Dương, Malaysia, Indonesia đến Australia và các đảo pôlynesi.

Ở Việt Nam chi có đến 100 loài xếp trong 14 tông phân biệt nhau phức tạp bằng thân (củ giả), lá, hoa. Lan phi điệp (Dendrobium anosmun) là một loài trong chi hoàng thảo (Dendrobium). Đặc điểm của loài là hoa từng mọc dọc theo các đốt ở 2/3 thân phía ngọn. Tùy vùng miền xuất xứ mà hình dáng hoa khác nhau, độ đậm nhạt khác nhau, độ bay của cánh, hình dáng môi hoa, phân bố màu sắc.

Hiện nay Phi điệp là loài lan đắt nhất Việt Nam, từ 2013 Phi điệp liên tục thay đổi về giá. Giá lan phi điệp hiện nay gấp khoảng 6 - 8 lần so với những năm trước đây, thật sự là ước mơ rất lớn đối với những người mới chơi 2 lan nhưng chưa có điều kiện kinh tế. Giá phi điệp tính theo kg vào khoảng 6 - 7 triệu/kg. Được mệnh danh là phi điệp có mặt hoa đẹp, phi điệp Phú Thọ, Hòa Bình, Di Linh, có giá rất đắt khi được bán theo mầm, theo ngọn chứ không bán theo kg.

Thậm chí, loài phi điệp đột biến 5 cánh trắng đang được bán theo cm. Mặt bông đẹp hiện nay là tiêu chí đánh giá giá trị của loài lan phi điệp này [26]. Hoa phong lan và lan Phi Điệp nói riêng là loại hoa đang rất được ưa chuộng trên thị trường. Chúng chủ yếu được trồng trên nền giá thể gỗ.

Lan có khả năng tự quang hợp để chuyển hóa năng lượng giúp cây sinh trưởng. Lan cũng có thể hấp thu hơi ẩm từ không khí hoặc trên vỏ cây chủ. Rễ của chúng phát triển nhờ hút nước và dinh dưỡng tự nhiên. Một số vi sinh vật cộng sinh cũng cung cấp dinh dưỡng cho chúng.

Nhưng dinh dưỡng đó chưa đủ để cây phát triển. Vì vậy cần cung cấp dinh dưỡng từ các nguồn phân bón. Việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón đến sinh trưởng của cây lan Phi Điệp (Dendrobium anosmum) tại vườn lan Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên” nhằm đánh giá mức độ sinh trưởng của cây Phi Điệp là cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu 1.

Mục tiêu chung - Đánh giá được ảnh hưởng của các loại phân bón đến sinh trưởng, và chất lượng của cây lan Phi Điệp từ đó đưa ra loại phân bón phù hợp với điều kiện khí hậu tại Thái Nguyên. Mục tiêu cụ thể + Đánh giá được ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng số chồi và chiều cao chồi của cây lan Phi Điệp + Đánh giá được ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng đường kính 3 gốc, động thái ra rễ, chiều dài rễ của cây lan Phi Điệp + Đánh giá được ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra lá và chất lượng cây của cây lan Phi Điệp + Đánh giá được tình hình sâu bệnh hại cây lan Phi Điệp và biện pháp phòng trừ. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Qua nghiên cứu thực tiễn đề tài giúp ta làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng lý thuyết đã học được trong nhà trường và thực tiễn sản xuất.

- Học tập và hiểu biết về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn trồng và chăm sóc Lan tại địa bàn nghiên cứu. - Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi ra thực tế. - Giúp tôi hiểu thêm về sự ảnh hưởng của các loại phân khác nhau tới sinh trưởng của cây lan Phi Điệp trong giai đoạn đầu. - Đánh giá tình hình phát triển từ đó đưa ra loại phân bón phù hợp nhất, áp dụng vào sản xuất Lan.

- Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn và lưu giữ nguồn gen thực vật quý hiếm trong sự nghiệp bảo tồn đa dạng sinh học hiện nay. - Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác về loài cây lan. Ý nghĩa trong thực tiễn - Kết luận của đề tài là cơ sở quan trọng để có loại phân bón hợp lý, góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc giúp nâng cao năng suất, chất lượng và tiết kiệm chi phí sản xuất cho người trồng Lan. 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.

Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, y học, việc vận dụng tính dược liệu của các loại lan trong những năm gần đây ngày càng được coi trọng và dần đi theo chiều sâu, đặc biệt là loài lan đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và cần được bảo tồn. Lan đang là nhu cầu của nhiều người trên thế giới trong việc thưởng thức cái đẹp hay trong y học. Hiện nay Lan là một loại cây trồng có giá trị cao. Ở Việt Nam, loài lan đã được một số nhà khoa học nghiên cứu đánh giá và bước đầu thu được những kết quả tốt.

Ngoài việc phục vụ các nhu cầu giải trí, thưởng thức cái đẹp của con ngừời, phong lan đồng thời cũng đã tạo ra được một nguồn lợi kinh tế quan trọng. Theo các chuyên gia về lan, nghề trồng lan đã đem lại lợi nhuận không nhỏ cho người dân, nghề trồng lan đã phát triển thành nghành công nghiệp có lợi nhuận cao. Ở nước ta, hoa lan được trồng ở những vùng có khí hậu lạnh như Sapa, Đà Lạt và các tỉnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, sản xuất hoa lan ở nước ta vẫn còn hạn chế về năng suất, chất lượng, sản lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, hoa nở không đúng dịp lễ tết… Một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên đó là các giống hoa lan chưa được nghiên cứu khảo nghiệm tại các vùng sinh thái một cách hệ thống trước khi trồng.

Do đó, nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón sẽ giúp chúng ta nắm bắt được đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng thích nghi của chúng với điều kiện khí hậu góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc giúp nâng cao năng suất, chất lượng và tiết kiệm chi phí sản xuất cho người trồng lan. Giới thiệu chung về phong lan Phong lan có vùng phân bố rộng lớn, trải dài từ đường xích đạo cho đến Bắc cực, từ đồng bằng cho đến các vùng núi băng tuyết. Họ phong lan (Orchidaceae) với 750 chi và hơn 25000 loài là họ lớn thứ hai sau họ cúc (Asteraceae) trong ngành hạt kín (Angiospermae) và cũng là họ lớn nhất trong lớp một lá mầm [3]. Chi Hoàng thảo (Dendrobium) là một chi lớn trong họ Phong lan.

Hiện nay, chi này bao gồm hơn 1200 loài được chia thành 40 nhóm thuộc dòng Dendrobiinae. Chi Dendrobium được phân bố rộng rãi nhiều ở vùng Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á cho đến Philippines, Borneo, Autralia, NewZealand, riêng ở Việt Nam có trên 110 loài [21]. Về đặc điểm hình thái bên ngoài của chi Dendrobium: Rễ chi Dendrobium thuộc loại rễ bì sinh, chung quanh rễ thật được bao bọc bởi một lớp mô xốp (màng) giúp cây dễ dàng hút nước, muối khoáng và ngăn chặn ánh sáng mặt trời gay gắt. Chóp rễ có màu xanh lá cây, ở phần rễ có các sắc lạp không bị ngăn bởi mô xốp nên có thể giúp cây quang hợp [1].

Rễ của lan Dendrobium không chịu được lạnh, nếu bị lạnh trong thời gian dài, rễ cây sẽ bị mục nát và cây bị chết [3]. Thân lan Dendrobium thuộc loài đa thân có hệ thống nhánh nằm ngang bò dài trên giá thể hoặc nằm sâu trong đất gọi là thân rễ. Thân có dạng mọc thẳng hoặc rũ xuống [3]. Giả hành là những đoạn phình to, bên trong có các mô mềm chứa dịch nhày làm giảm sự mất nước và dự trữ chất dinh dưỡng để nuôi cây trong điều kiện khô hạn khi cây sống bám trên cao.

Ngoài ra giả hành còn chứa diệp lục tố nên có thể quang hợp được [10]. Hình dạng và kích thước của giả hành rất đa dạng: hình cầu, thuôn dài hay hình trụ xếp chồng lên nhau tạo thành thân giả có lá mọc xen kẽ [6]. 6 Lá có hình kim, trụ hay phiến mỏng. Dạng lá mềm mại, mọng nước, dai, có màu xanh bóng, đậm hay nhạt tùy thuộc vào vị trí sống của cây.

Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo gân vòng cung như cái quạt hay chỉ gấp lại theo gân giữa như hình chữ V [3]. Các loài thuộc giống Dendrobium đôi khi trút lá vào mùa khô hạn. Sau đó, cây ra hoa hay sống ẩn để khi gặp mưa thì cho chồi mới [3]. Dendrobium có cụm hoa mọc từ thân thành từng chùm, trên một cành hoa có những chiếc hoa đơn xếp theo hình xoắn ốc, các hoa đơn liền cành nhờ cuống.

Cuống kéo dài cho tới bầu hoa tạo ra ba lá noãn (bầu hoa được tạo thành bởi 3 lá đài, 3 cánh hoa và một trụ hoa) [1]. Quả họ Orchidaceae có quả thuộc quả nang. Khi hạt chín, các nang bung ra chỉ còn dính lại với nhau ở đỉnh gốc. Ở một số loài khi chín quả không nứt ra nên hạt chỉ ra khỏi quả khi bị mục nát [3].000 hạt, đôi khi đến 3 triệu hạt có kích thước rất nhỏ nên phôi hạt cha phân hóa.

Sau 3 - 5 tháng hạt chín và phát tán nhờ gió [3] Theo Trần Hợp (1990) [2]. Hệ thực vật họ phong lan nước ta vô cùng phong phú, chúng phân bố từ bắc vào nam. Một số loài chỉ xuất hiện ở các tỉnh phía bắc, một số khác chỉ phân bố ở các tỉnh phía nam, số ít phân bố rộng từ bắc vào nam làm cho sự phân chia về phân bố khá phức tạp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ