Luận án tiến sĩ lâm nghiệp: Cơ sở khoa học gây trồng và phát triển cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) tại phía Bắc Việt Nam - Nông Phương Nhung

Nghiên cứu khoa học về gây trồng và phát triển cây Sưa (Dalbergia tonkinensis) ở Bắc Việt Nam. Công nghệ lâm nghiệp tiên tiến cho phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

219
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu cây sưa Dalbergia tonkinensis Prain phía Bắc

Cây sưa Dalbergia tonkinensis Prain thuộc họ Đậu, là loài cây gỗ quý hiếm có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam. Gỗ sưa được sử dụng trong chế biến đồ mỹ nghệ cao cấp và y học cổ truyền. Loài cây này phân bố chủ yếu tại các tỉnh phía Bắc, nơi có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa phù hợp. Tình hình khai thác quá mức đã khiến nguồn gen tự nhiên suy giảm nghiêm trọng. Nhiều quốc gia châu Á đã tiến hành nghiên cứu các loài thuộc chi Dalbergia. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu mang tính tổng quan, so sánh giữa các loài. Riêng tại Việt Nam, nghiên cứu chuyên sâu về sưa Dalbergia tonkinensis Prain vẫn còn hạn chế. Luận án tiến sĩ lâm nghiệp được thực hiện nhằm bổ sung những cơ sở khoa học quan trọng. Nghiên cứu kế thừa hai mô hình khảo nghiệm gia đình sưa từ các chương trình hợp tác quốc tế. Kết quả tạo nền tảng vững chắc cho chiến lược bảo tồn và phát triển bền vững nguồn gen cây sưa.

1.1. Tình hình nghiên cứu cây sưa trên thế giới

Các loài thuộc chi Dalbergia được nghiên cứu rộng rãi ở nhiều quốc gia châu Á. Tại Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh, cây sưa sissoo được trồng rừng quy mô lớn để cung cấp gỗ xẻ. Công nghệ nhân giống invitro đã hoàn thiện, phục vụ nhân nhanh trên quy mô lớn. Nghiên cứu về ảnh hưởng của độ ẩm đến khả năng nảy mầm hạt cho thấy bảo quản lạnh ở độ ẩm 12,35% đảm bảo tỷ lệ nảy mầm cao nhất. Đặc điểm sinh trưởng, sinh khối và số lượng nốt sần rễ cũng được ghi nhận chi tiết. Tuy nhiên, các nghiên cứu này tập trung vào sưa sissoo chứ chưa có công trình chuyên biệt cho Dalbergia tonkinensis Prain.

1.2. Tình hình nghiên cứu cây sưa tại Việt Nam

Tại Việt Nam, cây sưa Dalbergia tonkinensis Prain được đánh giá là loài cây quý, hiếm cần bảo tồn nguồn gen. Dự án AKECU do PGS. Nguyễn Hoàng Nghĩa chủ trì đã triển khai bảo tồn nguồn gen trong giai đoạn 2014-2015. Chương trình hợp tác với Đại học Murdoch đã xây dựng mô hình khảo nghiệm các gia đình sưa từ năm 2013. Các nghiên cứu bước đầu ghi nhận đặc điểm hình thái, sinh lý hạt giống và khả năng nảy mầm. Tuy nhiên, kiến thức về kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và đánh giá chất lượng rừng trồng vẫn chưa đầy đủ. Điều này đòi hỏi một luận án tiến sĩ lâm nghiệp với cách tiếp cận hệ thống và toàn diện hơn.

II. Phân tích thực trạng gây trồng cây sưa ở phía Bắc Việt Nam

Thực trạng gây trồng cây sưa tại phía Bắc Việt Nam tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Diện tích trồng rừng sưa tăng nhanh nhưng chất lượng cây trồng chưa đồng đều. Nhiều hộ gia đình trồng sưa theo kinh nghiệm, thiếu cơ sở khoa học về chọn giống và kỹ thuật canh tác. Đặc điểm sinh trưởng của sưa Dalbergia tonkinensis Prain biến động lớn giữa các vùng sinh thái. Cây thường bị cong thân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trị thương phẩm gỗ. Bệnh hại lá xuất hiện phổ biến trong giai đoạn vườn ươm, gây thiệt hại cho sản xuất giống. Chất lượng đất trồng tại các khu vực khác nhau có sự chênh lệch đáng kể. Các yếu tố như độ cao, dốc, vị trí chân-sườn-đỉnh đồi tác động mạnh đến sinh trưởng cây. Việc thiếu hệ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hình thân khiến công tác quản lý rừng trồng gặp khó khăn. Những tồn tại trên cho thấy nhu cầu cấp thiết phải xây dựng cơ sở khoa học toàn diện cho nghề trồng sưa.

2.1. Thách thức trong sản xuất giống và vườn ươm

Sản xuất giống cây sưa Dalbergia tonkinensis Prain đối mặt nhiều thách thức kỹ thuật. Tỷ lệ nảy mầm hạt biến động phụ thuộc vào điều kiện bảo quản và phương pháp xử lý trước gieo. Bệnh hại lá xuất hiện sớm trong vườn ươm, ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều cao và đường kính cổ rễ cây con. Kỹ thuật giâm hom và chiết cành chưa được tối ưu hóa cho loài này. Công nghệ nhân giống invitro vẫn ở giai đoạn nghiên cứu ban đầu. Nguồn hạt giống chưa được kiểm soát chất lượng chặt chẽ, dẫn đến cây trồng có nguồn gốc di truyền không rõ ràng. Điều này làm giảm hiệu quả kinh tế và khả năng thích ứng của rừng trồng.

2.2. Vấn đề đánh giá sinh trưởng và chất lượng rừng trồng

Đánh giá sinh trưởng cây sưa trong rừng trồng đòi hỏi phương pháp phù hợp với đặc điểm loài. Chiều cao và đường kính ngang ngực là chỉ tiêu cơ bản nhưng chưa đủ để đánh giá chất lượng thương phẩm. Cây sưa thường bị cong thân, ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị gỗ. Phương pháp đánh giá độ thẳng thân dựa trên khoảng cách từ hình chiếu dây cung đến đỉnh cung cong so với đường kính thân tại đỉnh cung được đề xuất theo thang 5 điểm. Chất lượng hình thân còn phụ thuộc vào mật độ trồng, kỹ thuật tỉa cành và chăm sóc. Hệ thống phân cấp bệnh hại cần được xây dựng để theo dõi diễn biến dịch bệnh trên diện rộng.

III. Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu phát triển cây sưa

Luận án tiến sĩ lâm nghiệp áp dụng phương pháp nghiên cứu đa ngành, kết hợp nhiều kỹ thuật thu thập và phân tích số liệu. Hệ thống ô tiêu chuẩn được thiết lập tại vườn ươm và rừng trồng để đo lường chính xác các chỉ tiêu sinh trưởng. Tại vườn ươm, ba ô tiêu chuẩn diện tích một mét vuông được bố trí tại mỗi cơ sở sản xuất. Chiều cao cây con được đo bằng thước kẻ với độ chính xác 0,1 cm. Đường kính cổ rễ đo bằng thước kẹp, chính xác đến 0,1 mm. Đối với rừng trồng, ô tiêu chuẩn 250 mét vuông đảm bảo tối thiểu 30 cây mỗi ô. Điều tra thực hiện trên hai cấp tuổi: dưới năm tuổi và năm đến mười tuổi. Chiều cao cây rừng đo bằng thước đo cao, độ chính xác 0,5 mét. Đường kính ngang ngực đo bằng thước dây quy đổi từ chu vi. Mẫu đất được thu thập kết hợp với điều tra đặc điểm sinh trưởng tại các vị trí khác nhau theo độ cao, dốc và vị trí chân-sườn-đỉnh.

3.1. Phương pháp điều tra đặc điểm sinh trưởng cây sưa

Phương pháp điều tra được xây dựng phù hợp với quy mô và điều kiện thực tế tại phía Bắc Việt Nam. Tại vườn ươm, ba ô tiêu chuẩn mỗi mét vuông đặt tại các vị trí đại diện trong lô ươm. Chỉ tiêu đo bao gồm chiều cao cây con và đường kính cổ rễ, đồng thời ghi nhận tình trạng bệnh hại lá. Tại rừng trồng hộ gia đình, mỗi hộ lập một ô tiêu chuẩn 250 mét vuông theo phương pháp điển hình. Cây được đo chiều cao bằng thước đo cao và đường kính ngang ngực bằng thước dây. Số liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả và so sánh giữa các vùng.

3.2. Đánh giá chất lượng hình thân và phân cấp bệnh hại

Chất lượng hình thân cây sưa được đánh giá bằng thang điểm năm cấp dựa trên độ cong thân. Chỉ tiêu KC biểu thị khoảng cách từ hình chiếu dây cung đến đỉnh bên trong cung cong. Chỉ tiêu Dc là đường kính thân cây tại đỉnh cung cong. Cây đạt năm điểm có KC nhỏ hơn một lần Dc, đánh giá là rất thẳng. Cây bốn điểm có KC từ một đến hai lần Dc, được xếp loại thẳng. Cấp ba biểu thị cây hơi cong, cấp hai là cây cong và cấp một là cây rất cong. Hệ thống phân cấp bệnh hại được xây dựng để theo dõi mức độ ảnh hưởng đến sinh trưởng. Phương pháp này giúp tiêu chuẩn hóa đánh giá chất lượng rừng trồng sưa trên quy mô lớn.

IV. Kết luận và ứng dụng trong phát triển bền vững cây sưa phía Bắc

Luận án tiến sĩ lâm nghiệp đã cung cấp cơ sở khoa học toàn diện phục vụ gây trồng và phát triển cây sưa Dalbergia tonkinensis Prain. Kết quả nghiên cứu xác định rõ đặc điểm sinh trưởng của sưa qua các giai đoạn phát triển. Phương pháp đánh giá độ thẳng thân được tiêu chuẩn hóa thành thang năm điểm, tiện ứng dụng trong thực tế. Các yếu tố sinh thái như độ cao, dốc và vị trí địa hình ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng cây. Chất lượng đất trồng tại các vùng khác nhau cho thấy sự khác biệt đáng kể về hàm lượng dinh dưỡng. Dữ liệu từ hai mô hình khảo nghiệm gia đình sưa cung cấp thông tin quý giá về biến động di truyền. Nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới trong chọn giống và quy hoạch vùng trồng sưa. Những đóng góp này có ý nghĩa thực tiễn cao, hỗ trợ cơ quan quản lý xây dựng chiến lược phát triển bền vững. Ứng dụng kết quả nghiên cứu giúp nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng sưa tại phía Bắc Việt Nam.

4.1. Đóng góp khoa học của luận án tiến sĩ lâm nghiệp

Luận án tiến sĩ lâm nghiệp mang lại nhiều đóng góp mới cho khoa học lâm nghiệp Việt Nam. Phương pháp đánh giá độ thẳng thân cây sưa lần đầu được đề xuất và kiểm chứng thực địa. Dữ liệu sinh trưởng theo cấp tuổi cung cấp cơ sở dự báo năng suất rừng trồng. Kết quả phân tích ảnh hưởng của điều kiện sinh thái giúp xác định vùng trồng tối ưu. Hệ thống phân cấp bệnh hại được xây dựng phục vụ giám sát sức khỏe rừng trồng. Nghiên cứu kế thừa hiệu quả từ hai mô hình khảo nghiệm quốc tế, đảm bảo độ tin cậy cao. Các phát hiện về biến động di truyền giữa các gia đình sưa mở hướng cho công tác chọn giống.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong phát triển lâm nghiệp bền vững

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trực tiếp vào sản xuất giống và trồng rừng sưa. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hình thân giúp người trồng rừng lựa chọn cây giống tốt. Quy trình kỹ thuật gây trồng dựa trên cơ sở khoa học nâng cao tỷ lệ sống và sinh trưởng. Bản đồ phân vùng trồng tối ưu hỗ trợ quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu gỗ sưa. Hệ thống giám sát bệnh hại giúp phát hiện sớm và xử lý kịp thời dịch bệnh. Hướng dẫn chăm sóc rừng trồng theo từng giai đoạn tuổi giúp tối ưu hóa chi phí sản xuất. Kết quả nghiên cứu cũng phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen cây sưa quý hiếm tại các khu bảo tồn thiên nhiên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ lâm nghiệp nghiên cứu một số cơ sở khoa học phục vụ gây trồng và phát triển cây sưa dalbergia tonkinensis prain ở phía bắc việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu (25 trang). Nội dung, vật liệu và phương pháp nghiên cứu (26 trang). ết quả nghiên cứu và thảo luận (72 trang). Kết luận, tồn tại và kiến nghị (3 trang).

Luận án đã tham khảo 126 tài liệu, trong đó 44 tài liệu tiếng Việt và 82 tài liệu tiếng nước ngoài. 6 hƣơng 1 TỔNG UAN VẤN Ề NGHI N U 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu đặc điểm và giá trị sử dụng của cây Sưa ặc điểm chung: Dalbergia là một chi lớn với 250 loài, có phân bố rộng và tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới.

Đa số các loài trong chi có giá trị kinh tế cao, thường được ưa dùng trong chế biến nội thất cao cấp, gỗ có mùi thơm, vân gỗ đẹp, nhiều loài có khả năng làm dược liệu (Vatanparast et al. Những loài có giá trị trong chi Dalbergia đều bị khai thác kiệt, hầu hết chúng đã được liệt kê trong danh sách của C T S, điển hình như loài Dalbergia latifolia ở Ấn Độ, D. melanoxylon ở Châu Phi, D. odorifera ở Trung Quốc, D.

cochinchinensis ở Đông Nam Á và D. tonkinensis ở Việt am… (Chen et al. Những loài này được sử dụng vào mục đích chính là làm dụng cụ âm nhạc, làm dược phẩm, đồ nội thất cao cấp và các sản phẩm có giá trị tâm linh. Các nghiên cứu về các loài trong chi Dalbergia ở các nước cũng thường chỉ tập trung vào nội dung mô tả, nhận dạng để bảo tồn như các nghiên cứu mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái của cây Sưa (Yu et al., 2013 [121], Chen et al., 2014 [58]), mô tả đặc điểm phấn hoa (Yang et al., 2015 [119]), về giá trị dược liệu (Hou et al., 2011 [73]; Lee et al., 2013c [83]), giải phẫu gỗ (Yu et al., 2013 [121]) và nhận dạng bằng DNA (Yu et al.

7 Sưa trung quốc (Dalbergia odorifera) thuộc họ Đậu (Fabaceae), là loài đặc hữu ở Trung Quốc và phân bố chủ yếu ở đồng bằng phía Tây và Tây Nam Trung Quốc hoặc vùng đồi núi thấp với độ cao dưới 400 m. Đây là loài được bảo vệ nghiêm ngặt ở Trung Quốc và đã được ghi trong Sách đỏ thế giới năm 1998 (Yu et al., 2013 [121]; Chen et al. ặc điểm hình thái: Trên thế giới, đến thời điểm hiện tại rất ít tài liệu khoa học đã công bố về cây Sưa, hiện nay loài Sưa phân bố ở miền Nam Trung Quốc đang được gọi là Sưa trung quốc và được định danh với tên khoa học là Dalbergia odorifera. Tuy nhiên, liệu loài Sưa trung quốc và loài Sưa ở Việt Nam (Dalbergia tonkinensis) có phải là một loài hay thuộc hai loài khác nhau vẫn có những quan điểm nghi vấn và đang được các nhà khoa học Trung Quốc tiếp tục nghiên cứu (Xu et al.

Sưa trung quốc (Dalbergia odorifera T. Chen) là cây gỗ nhỡ, cao 10 - 15 m. Vỏ màu nâu hay nâu nhạt, bong vỏ, nứt dọc. Cành mảnh, lúc non mềm, rủ, rậm.

Lá kép lông chim một lần lẻ, lá chét mọc lệch, có từ 7 - 13 lá chét/lá kép; Hoa tự màu trắng, thơm; Quả đậu hình trứng thuôn, dài, thường có 1 - 2 hạt/quả; Hạt mỏng, thường rộng 5 mm và dài 10 mm (Chen et al. Nghiên cứu đặc điểm phấn hoa của 52 loài thực vật, bao gồm một số loài cây thuộc chi Dalbergia đã được thực hiện tại đảo Hải Nam, Trung Quốc, trong đó phấn hoa của Sưa trung quốc (D. odorifera) đã được thu thập, mô tả rất chi tiết phục vụ công tác khai thác và phát triển nguồn gen các loài thực vật quý (Yang et al. Các loài cây họ Đậu, trong đó bao gồm các loài Sưa (D.

odorifera) có khả năng cố định đạm rất hiệu quả (Lu et al., 2012 8 [90]) do đó, ngoài cung cấp lâm sản, việc trồng Sưa còn có tác dụng cải tạo đất. ặc điểm phân bố và sinh thái: Sưa trung quốc (D. odorifera) là loài đặc hữu ở Trung Quốc, chúng phân bố chủ yếu ở đồng bằng hoặc ở vùng đồi núi thấp thuộc các địa phương phía Tây và Tây am Trung Quốc, tập trung ở độ cao dưới 400 m so với mực nước biển (Yu et al. odorifera) phân bố tự nhiên ở các trạng thái rừng cận nhiệt đới thuộc tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Phúc Kiến, Chiết Giang của Trung Quốc (Huang, 1995 [74]; Yao et al., 2012 [120]; Chen et al.

Kết quả nghiên cứu ở đảo Hải Nam, Trung Quốc cho thấy chúng thường phân bố ở rừng mưa nhiệt đới và rừng nửa rụng lá, xuất hiện nhiều ở các loại rừng cây họ Dầu và ở độ cao dưới 650 m so với mực nước biển (Yang et al. Ở các nơi khác, chúng thường tái sinh ở bìa rừng, các khoảng trống trong rừng, tập trung nhiều ở độ cao từ 100 - 500 m (Chen et al. Giá trị sử dụng: Các loài cây thuộc chi Dalbergia đã được sử dụng để làm dược phẩm cũng như thảo dược khá phổ biến và hiệu quả đối với nhiều loại bệnh. Các dẫn xuất tách chiết từ gỗ của loài D.

parviflora được xác định có tác dụng chống sốc phản vệ hiệu quả, đặc biệt là hai chất cinnamyl và dalparvinene mới tách chiết được có tác dụng rất cao (Songsiang et al. Các sản phẩm từ lá của loài D. saxatilis được sử dụng trong y học truyền thống ở vùng Trung Đông và am để chữa ho, thủy đậu, viêm da, viêm phế quản và đau răng. goài ra, một nghiên cứu mới đây còn 9 cho thấy chúng có tác dụng giảm đau, chống viêm và hạ sốt (Hassan et al.

Cây Sưa sissoo thường được dùng để bào chế thuốc ở các nước Nam Á. Ở Ấn Độ và Pakistan, vỏ cây được dùng để làm thuốc chống viêm, hạ sốt, chống ô xi hóa, bệnh da liễu và kiết lị (Khan and Khan, 2013 [76]). Hợp chất Neoflavonoids có trong gỗ Sưa sissoo được xác định có khả năng ngăn ngừa loãng xương rất hiệu quả (Kumar et al. Các hợp chất hóa học học DBN chiết xuất từ gỗ Sưa sissoo dùng để điều trị một số bệnh về xương khớp cho thấy chúng có khả năng ức chế tác nhân gây bệnh loãng xương nhưng không gây phản ứng phụ ngoài mong muốn khi thí nghiệm trên các loài gặm nhấm (Choudhary et al., 2016 [60]; Khedgikar et al.

Dịch chiết từ lá của loài D. paniculata có tác dụng chống oxy hóa mạnh và đã được sử dụng điều trị chống viêm phổi hiệu quả khi thí nghiệm trên chuột (Ganga et al. Các hợp chất tổng hợp từ lá của cây Sưa spinose ở Ấn Độ (D. spinosa) được xác định có tác dụng chống oxy hóa và chống viêm nhiễm rất mạnh (Muniyappan and Nagarajan, 2014 [94]).

Hai hợp chất dalbergin và formononetin chiết xuất từ vỏ cây Sưa melanoxylon (D. melanoxylon) có tác dụng ức chế rất mạnh đối với ký sinh trùng sốt rét (Mycobacterium tuberculosis) và được dùng làm thuốc chữa bệnh sốt rét ở các quốc gia châu Phi (Mutai et al. Các chất dichloromethane và hexane chiết xuất từ cây Cẩm lai (D. oliveri) cũng được xác định có tác dụng tiêu diệt muỗi hiệu quả (Pluempanupat et al.

Gỗ Sưa trung quốc (D. odorifera) được sử dụng để chiết xuất các hợp chất hóa học phục vụ chế biến thảo dược, bào chế các loại thuốc và 10 thường được dùng cho điều trị bệnh ở Trung Quốc và Hàn Quốc, đặc biệt là chữa cao huyết áp, giảm mỡ máu, giảm cholesterol, cầm máu, nhuận khí và hoạt huyết… (Hou et al., 2011 [73]; Lee et al. Tinh dầu chưng cất từ gỗ Sưa được dùng làm dược liệu, trong đó dẫn suất sesquiterpenes 1 và 2 phân lập từ tinh dầu Sưa có tác dụng chống đông máu (Tao and Wang, 2010 [108]). Các hợp chất chiết xuất từ cây Sưa trung quốc như 3'-hydroxymelanettin và eriodictoyl có hoạt tính chống oxy hoá mạnh hơn so với chất chống oxy hoá tổng hợp thông thường hiện đang sử dụng (Hou et al., 2011 [73]; Wang et al.

Một số chất chiết xuất từ cây Sưa trung quốc có tác dụng chữa bệnh đông máu cục bộ và các bệnh về máu, hiện đang được nghiên cứu phát triển thành một loại thuốc đặc trị các bệnh về máu (Fan et al. Tại Hàn Quốc, hợp chất (2S)-pinocembrin chiết xuất từ gỗ Sưa trung quốc được xác định có khả năng chống ô xi hóa rất mạnh và ức chế các tác nhân gây ung thư, giảm mỡ máu và cholesterol (Lee et al., 2013a [81]; Yun et al., 2017 [124]), hợp chất khác là 4,2′,5′-trihydroxy-4′- methoxychalcone (T C) cũng có hoạt tính chống ô xi hóa rất mạnh (Lee et al. Hai hợp chất 9-Hydroxy-6, 7-dimethoxy dalbergiquinol chiết xuất được từ gỗ Sưa trung quốc có tác dụng chống viêm, đặc biệt là chống thoái hóa cơ tim do viêm thần kinh (Lee et al. Gỗ Sưa ở Trung Quốc rất được ưa chuộng để làm đồ nội thất cao cấp, đồ gỗ cao cấp làm từ gỗ Sưa có vân gỗ và màu sắc đẹp, có mùi thơm và có thể tồn tại hàng trăm năm.

Chúng có giá trị sử dụng rất cao đối với thói quen tiêu dùng của người Trung Quốc (Yu et al. Gỗ Sưa có độ bền rất cao, ngâm trong bùn, trong nước nhiều năm vẫn không bị mục nát và vẫn giữ được mùi thơm, phơi ngoài nắng không bị co nứt. Bởi vậy, 11 từ hàng trăm năm qua, người Trung Quốc rất ưa chuộng và quan niệm gỗ Sưa như một loại tài sản quý, các gia đình giàu sang thường sở hữu vật dụng làm từ gỗ Sưa để thể hiện đẳng cấp thượng lưu. Nhìn chung, các loài cây thuộc chi Dalbergia nói chung và cây Sưa nói riêng rất có giá trị về dược liệu, chúng được sử dụng như những loại thảo dược trong y học cổ truyền cũng như đang được nghiên cứu để bào chế các loại tân dược.

Giá trị của cây Sưa không chỉ bao gồm giá trị sử dụng gỗ phục vụ chế biến đồ gia dụng cao cấp mà chúng còn có giá trị rất cao trong y học. Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen: Các hoạt động nghiên cứu bảo tồn nguồn gen các loài cây thuộc chi Dalbergia nói chung và cây Sưa nói riêng mà cụ thể là cây Sưa trung quốc đã được thực hiện khá bài bản, việc nghiên cứu nuôi cấy mô, tế bào đã giúp phát triển nhanh và bảo tồn hiệu quả nhiều loài cây quý hiếm ở Trung Quốc, trong đó có cây Sưa (Gao et al. Các sản phẩm từ cây Sưa có giá trị kinh tế và dược liệu cao nên chúng đang được bảo tồn bằng các chương trình do chính phủ tài trợ và phát triển trên diện rộng ở Trung Quốc do các đơn vị sản xuất và người dân đầu tư, đặc biệt, chúng đang được trồng hỗn giao thành công với một loài cây có giá trị cao khác là Đàn hương (Santalum album).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ