Chương 1: TONG QUAN TÀI LIỆU. Đá vôi và những ánh hưởng toi hệ thực vật 1.Đặc điểm của đá vôi và phân loại Đá vôi có thành phần khoáng vật chính là canxit, có thé do trim tích hóa học, tức là sự lắng đọng CaCO›, hoặc trim tích sinh học, tức vỏ những sinh vật chứa nhiều cacbonate chết đi rồi tích lũy lại mà thảnh. (25, 41] Đá vôi thường có màu xám, trắng, đen hoặc hồng, bề mặt tương đối mịn. Những khối lớn đá vôi được phân lớp rõ rệt phản ánh quá trình tram tích.
Ving núi đá vôi với địa hình đặc biệt của nó, địa hình Karst, thường có những hang động ngầm va suối nước nóng. Thành phần của đá vôi chủ yếu là CaCO., nếu lẫn thêm nguyên t6 khác thì có thể hình thành ic loại đá mang tên khác như: Đôlômit, đá vôi chứa silic, đá sét vôi hay tip vôi. Ở nước ta đá vôi hình thành những đải lớn ở Cao Bằng, Lạng Sơn, T en Quang, Vùng Tây Bắc, Tây Nghệ An, Quảng Binh và một diện tích nhỏ ở Hà Tiên. Quá trình phong hóa đá vôi diễn ra khá chậm chạp, tủy theo thang phân loại ma người ta chia đất phong hóa từ đá vôi thành các loại khác nhau.
Theo Ban biên tập Bản đỗ đất Việt Nam thì trên đá vôi có 3 loại đất chính: Bat den cabonate (thuộc nhóm VI đất den); đất đỏ trên đá vôi (thuộc nhóm VI đất đỏ vàng); đất min đỏ trên đá vôi (thuộc nhóm VIII dat mủn đỏ vàng). Tuy ting mang nhưng đất hình thành trên núi đá vôi giàu dinh dưỡng, ít chua, là môi trường sống của nhiều loài gỗ quí (nghién, trai, đinh.) và cây ăn quả nỗi tiếng (đào, lê, man.2 Vai trò của canxi đối với thực vật phát triển trên núi đá ví Canxi là thành phần chính của đá vôi, trong đắt canxi thường tồn tại dưới dạng muối cacbonate (CaCO;), sulphate (CaSO, 2H;O), phosphate, silicate. hòa tan hay không tan. Sự có mặt của canxi làm cho môi trường đất trở nên kiềm vả có cầu tượng vì thé nó hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của vi sinh vật va hệ rễ, làm cho dinh dưỡng của các muỗi vô cơ khác được dé dàng.
[25] Đối với thực vật bậc thấp, canxi có thể cần cho một nhóm nảy nhưng. có thể lại gây độc cho một nhóm khác. Đồi với thực vật bậc cao, muối canxi tác dụng đến sự phân bố nhóm thực vật ưa canxi. Đặc điểm này đã tạo nên một hệ sinh thái núi đá vôi rất đặc biệt ở nước ta 1.
Các vùng sinh thái trên núi đá vôi Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về phân bố núi đá vôi theo các vùng. địa lý và tài nguyên thực vật, rừng trên núi đá vôi được phân chia thành các vùng như sau: 1. Vùng Cao Bằng - Lạng Sơn Đây là vùng có núi đá vôi tập trung lớn nhất trong cả nước. Hoạt động, xâm nhập ở vùng Đông Bắc chủ yếu tập trung vào miền này.
Vùng này ở vào. Vi độ cao của nước ta và mang dấu hiệu chuyển tiếp từ khí hậu nhiệt đới sang á nhiệt đới. Vùng núi đá vôi Cao Bằng - Lạng Sơn gồm có 2 vùng phụ núi đá. vôi chủ yếu; + Vũng núi đá vôi Ngân Sơn - Trùng Khánh « Vùng núi đá vôi Bắc Sơn Kiểu núi đá vôi trung bình và thấp, bao gồm một số cao nguyên đá vôi khối uốn nếp có quá trình hoạt động Karst trên mặt va Karst ngằm.
Núi đá vôi có dạng núi sót có rất nhiều hang động, sông ngầm. Nhiều nơi quan sát thấy các dạng địa hình Karst với (hung lũng xâm thực, Hệ thực vật vùng này mang tính chất pha trộn của nhiều luồng thực vật nhưng đặc trưng là luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam — Nam Trung Hoa, đồng thời cũng chịu nhiều ảnh hưởng của các luồng thực vật khác. Các loài đại diện tiêu biểu cho vùng núi đá vôi Cao Bằng - Lang Sơn có giá trị kinh tế và có ý nghĩa lớn về mặt khoa học như Hoàng đàn (Cupressus tonkinensis) Thiết dinh_ (Markhamia stlipulata), Trai (Garcinia fagraeoides), Binh thôi (Ferandoa brilleti), Sam kim hi (Pseudo tsugachinensis). Trong đó, Hoàng Đàn là loài cây quý hiểm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam.
Đây cũng là vùng phân bố của nhiều loài động vật quí hiếm như Hươu xạ (Moschus ‘moschiferus), Vượn đen (Hylabates concolor). Vùng Tuyên Quang - Hà Giang Ving này có điện tích núi đá vôi 130. Các loại đá vôi chiếm vai trỏ chủ yếu trong việc cấu tạo nên các núi trong vùng. Núi đá vôi tao thành một dai không liên tục theo hướng Tay - Bắc tập trung chủ yếu ở phía Bắc và Đông Bắc, tạo thành từng khối lớn.
Độ cao vùng nay lớn hơn vùng Cao Bằng - Lạng Son, các dãy núi phía Bắc cao tới 1,000m, Khu vực nảy nằm trong. vùng sinh thái trung tâm, bao gồm hai vùng phụ chủ yếu: + Vũng núi đá vôi Quin Ba - Phia Phương # Vũng cao nguyên đá vôi Bắc Ha Hệ thực vật núi đá vôi Tuyên Quang ~ Hà Giang có tính chất pha trộn của nhiều luỗng thực vật. Hệ thực vật ở đây mang nhiều nét da trưng của nhiều luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam — Nam Trung Hoa, tiêu biểu là các loài cây thuộc họ Re (Lauraceaeee), họ đậu (Fabaceae), họ dâu tim (Moraceae), họ ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae). Do vị ia lý nên hệ thực vật ở đây chịu ảnh hưởng của nhiều luồng thực vật Himalaya — Vân Nam — Qúy Châu.
Đại diện của các loài cây lá kim xuất hiện nhiều hơn như Hoàng đản (Cupressus tonkinensis), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Kim giao (Nageia fleuryi), Thông tre (Podocarpus neriifolius). Cùng với sự cô mặt của các loài rụng lá thuộc họ dé (Fagaceae), sự có mặt của đại diện nhiều luỗng thực vật đã đóng góp phần nào da dang thành phần các loài thực vật trên núi đá vôi. của vùng này. Vùng Tây Bắc- Tây Hoà Bình, Thanh Hoá Đây là một vùng tương đối rộng và kéo dài với diện tích 264.400 ha, do vậy chịu ảnh hưởng của các chế độ khí hậu khác nhau.
Trong vùng hình thành những sơn nguyên phức tạp chủ yếu là núi và cao nguyên đá vôi, khối uốn nếp xen kẽ đá phiến, cát kết, kéo đài thành một dai hệ từ Phong Thỏ đến Thanh Hoá. Vì có sự xen kể nham thạch nên trong kiểu địa hình này nên ta thấy xuất hiện cảnh quan Karst, trên núi đá vôi và cảnh quan xâm thực trên núi đá phiến cát kết. Vang núi Tây Bắc - Tây Hoà Binh, Thanh Hoá có các vùng phụ chủ + Cao nguyên đá vôi Ta Phinh - Sin Chai * Cao nguyên đá vôi Sơn La + Cao nguyên đá vôi Mộc Châu «_ Vùng núi đá vôi Son La — Hoà Bình - Bắc Thanh Hoá Ving núi đá vôi Nam Thanh Hoá Thực vật vùng này có những nét riêng biệt phủ hợp với các điều kiện địa hình và khí hậu của miễn, đủ các vành đai thực vật từ nhiệt đới, á nhiệt đới đến nhiệt đới núi cao, Các loài thực vật tiêu biểu cho miễn gồm các loài cây của ngành hạt tran như Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông pa cd (Pinus kwangtungensi ), Thông ning (Podocarpus neriifolius), Kim giao (Nageia fleuryi), Thông tre (Podocarpus neriifolius).Céc loài cây lá rong đóng vai trò chủ yếu trong các thành phần cây rừng trên núi đá vôi như các loài của họ dé (Fagaceae), họ Cáng lò (Betulaceac), họ Hồ đảo (uglandaceae). Trong vùng cũng đã xuất hiện một số loài đặc trưng của vùng phía Nam lên như Chò chỉ (Shorea chinensis), Tau nước (Vatica subglabra).
Một số loài của luồng thực vật từ Tay A sang như Sing lẻ (Lagerstroemia callyculata), Chò nhai - (Anogeisus acuminata). Sự phong phú của các loài cây lá kim đã hình thành nên nhiều vùng rừng hỗn giao cây lá kim và cây lá rộng, nhất là ở các vùng có độ cao lớn. Đây cũng là môi trường sống của một số loài động vật đặc hữu trên núi đá vôi là Voọc quản. Vùng Trường Sơn Bic Vùng Trường Sơn Bắc nằm trong miễn núi thấp, hẹp ngang, sườn dốc, cấu tạo kéo đài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Diện tích của vùng là 142. Đá vôi ở đây chủ yếu tập trung ở một khu vục: Núi đá vôi Khe Ngang- Kẻ Bằng. Miền Trường Sơn Bắc được phân làm 4 vùng trong đó quan trọng nhất 1à vùng núi đá vôi Kẻ Bảng. Núi đá vôi ở đây tập trung chủ yếu ở Kẻ Bảng và Khe Ngang, độ cao 700-800m.
Các dạng địa hình hiện tại thé hiện quá trình Karst đang phát triển mạnh, dong chảy bề mặt ít, sông suối ngầm phát triển. Ving Trường Sơn là "một cái nút” nơi gặp gờ của hai luỗng thực vật di cư tới. Một từ Himalaya qua Vân Nam xuống va một từ Indonexia lên. Do vậy, thực vật nói chung và các loài thực vật trên núi đá vôi nói riêng cũng có những nét khác gt với vùng khác, Thành phần thực vật chủ yếu là icho phân bé rộng ở rừng nhiệt đới như họ Xoan, họ Đậu, họ Mộc Lan, họ Bồ hỏn, họ Dâu tằm.
Các loài thực vật hat tran cũng có mặt một số loài như Hoàng. Vùng Bio Day là vùng sinh thái tương đối đặc biệt, tuy nhiên diện tích tập trung nhiều ở vùng Đông Bắc, chủ yếu là ving đảo Quảng Ninh. Ni đá vôi ở đây tập trung vào hai vùng nhỏ: + Vũng đảo Hạ Long + Đảo Bái Từ Long Các đảo đá vôi ở đây có diy dit những dang địa hình của một miễn Karst ngập nước biển. Phía Đông cũng có nhiều đảo núi đá vôi rải rác và có.
một số đảo lớn như đảo Cát Ba, đảo Cái Bau. Ngoài ra ở một số vùng khác. cũng có một số đảo núi đá vôi không tập trung và điện tích không lớn. Do những nét đặc trưng riêng biệt về địa hình và khí hậu ving đảo nên thực vật vùng này cũng có những nét khác biệt cới các vùng khác.
Tuy nhiên, một số loài thực vật đặc trưng hạt trần vẫn có mặt như Kim giao (Nageia fleuryi) ở đảo Cát Bà. Những quan điểm về tái sinh rừng. Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng với biểu hiện đặc trưng là sự xuất hiện một thé hệ cây con của những loài cây gỗ dưới tán rừng, rừng sau khai thác, trên dat rừng sau nương. Vai trò của thé hệ cây con này là dan thay thé các thé hệ cây gỗ giả cdi, Vi vậy, hiểu theo nghĩa hẹp, tai sinh rừng là quá trình phục hồi lại thành phan cơ bản của rừng mà chủ yếu là tầng cây gỗ.
Sự xuất hiện lớp cây con là nhân. tố mới làm phong phú thêm số lượng và thành phần loài trong hệ sinh thái (thực vật, động vật, vi sinh vật.