CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CƠ CẤU LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Khái niệm và vai trò của làng nghề thủ công mỹ nghệ 1. Một số khái niệm a. Khái niệm về làng nghề Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng trong cuốn kỷ yếu hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam” tổ chức tháng 8/1996 tại Hà Nội, thì “Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương.
song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài” 7, Tr39 Theo định nghĩa về LN tại Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, thì “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn” 10, Tr1. Theo UBND thành phố Hà Nội định nghĩa tại Quy định chính sách phát triển nghề và làng nghề thành phố Hà Nội ban hành kèm theo Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 04/8/2014, thì “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, làng hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, phường, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một luan an 16 hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân và xuất khẩu” 46, Tr2. Thực tế cho thấy, LN được hình thành bởi nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố chính như: Phạm vi địa lý, sản phẩm sản xuất, chủ thể sản xuất.
Về phạm vi địa lý, LN thường gắn với địa bàn một xã (Lụa Vạn Phúc, Gốm Bát Tràng, Gốm Chu Đậu, Đồng Đại Bái.), hoặc gắn với địa bàn một thôn, làng (Sơn mài Hạ Thái, Mây tre đan Phú Vinh, Khảm trai Chuôn Ngọ.); Về sản phẩm sản xuất, mỗi LN thông thường chỉ sản xuất một chủng loại sản phẩm (Ví dụ như làng gốm chuyên sản xuất đồ gốm, làng Lụa chuyên sản xuất đồ lụa, làng nghề gỗ chuyên sản xuất đồ gỗ,. Về chủ thể sản xuất, hầu hết các làng nghề tồn tại nhiều loại hình tổ chức sản xuất khác nhau bao gồm HTX, DNTN, Công ty TNHH, Công ty Cổ phần, Hộ kinh doanh cá thể, trong đó mô hình hộ kinh doanh gia đình là phổ biến. Từ các phân tích trên, có thể định nghĩa về LN như sau “LN bao gồm các doanh nghiệp, HTX, hộ kinh doanh cá thể (gọi chung là cơ sở sản xuất) chuyên sản xuất, kinh doanh một hoặc một số sản phẩm cùng ngành nghề TCMN trên địa bàn một thôn hoặc một xã”. Khái niệm về nghề TCMN Nghề TCMN được coi là ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chuyên sản xuất, chế tác các loại sản phẩm chủ yếu bằng tay và công cụ đơn giản, sử dụng sức người là chính, với kinh nghiệm sáng tạo của các nghệ nhân, thợ chuyên nghề.
Các nghề TCMN thường cũng sử dụng công nghệ truyền thống bao gồm: Tay nghề và kinh nghiệm của nghệ nhân, thợ chuyên nghiệp; công cụ cổ truyền; Xử lý vật liệu tự nhiên, sẵn có tại chỗ 45, Tr10. Hiện nay, việc phân loại nghề TCMN chưa có một quy định cụ thể của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để áp dụng thống nhất trên toàn quốc, mỗi nơi, mỗi tác giả có cách phân loại nghề TCMN khác nhau. Theo Bùi Văn Vượng nghề thủ công được chia ra thành 34 nghề như: Nghề gốm, Nghề chạm khắc đá, Nghề đúc đồng, Nghề rèn, Nghề dệt (vải, lụa), Nghề đóng thuyền, Nghề kim hoàn, Nghề dệt chiếu, Nghề may mặc, Nghề thêu ren, Nghề chạm khắc gỗ, luan an 17 Nghề làm nón, Nghề làm giày dép, Nghề dệt thảm, Nghề làm giấy gió, Nghề in bản mộc, Nghề khảm trai, Nghề làm tranh dân gian, Nghề sơn, sơn mài, Nghề Thuỷ tinh, Nghề ngọc (trai, đá quý), Nghề làm quạt giấy, Nghề làm trống, Nghề làm đồ chơi, Nghề làm con rối, múa rối, Nghề làm ô, dù, lọng, Nghề mây tre đan, Nghề làm đàn, sáo, nhị, Nghề làm trang phục sân khấu, Nghề mộc, Nghề kiến trúc, Nghề tiện gỗ, Nghề làm lược, Nghề làm hương, nến 59, Tr1. Theo cuốn Làng nghề, Phố nghề Thăng Long - Hà Nội của Vũ Quốc Tuấn, Nhà xuất bản Hà Nội năm 2010 thì nghề TCMN truyền thống được chia thành 14 các nhóm nghề như sau: Nghề gốm; Nghề sơn, sơn mài, khảm trai; Nghề kim hoàn; Nghề đúc đồng; Nghề dệt, may; Nghề thêu ren; Nghề mây tre, đan; Nghề làm nón, mũ lá; Nghề chạm khắc đá, kim loại, gỗ, sừng, xương; Nghề dát vàng bạc, quỳ; Nghề chế biến lâm sản, mộc dân dụng, gỗ mỹ nghệ; Nghề chụp ảnh, nặn tò he, hoa giấy, hoa khô, hoa gỗ, tranh đá, tranh gỗ, vẽ tranh trên kính; Nghề giấy gió, giấy sắc; Nghề tranh dân gian 45, Tr12 Tuy nhiên, theo cách phân loại như trên có nhiều nghề hiện nay không còn tồn tại (Nghề làm giấy gió, nghề làm con rối…) hoặc có nhiều nghề có tính chất tương đồng giống nhau (nghề mây tre đan với nghề làm nón mũ lá, hay nghề nghề tiện gỗ với nghề mộc…) hoặc một số nghề đang dần bị mai một (như: nghề làm ô dù, lọng; Nghề làm đàn, sáo, nhị…), vì vậy nếu phân ra nhiều loại nghề như vậy sẽ rất khó trong việc phân tích, đánh giá.
Qua kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực LN, theo tác giả nghề TCMN có thể căn cứ vào đặc điểm, tính chất để phân ra thành các nghề sau đây: - Nghề gốm sứ. - Nghề mây tre giang đan. - Nghề khảm trai, mộc dân dụng. - Nghề thêu ren.
- Nhóm nghề khác. Khái niệm cơ cấu và tái cơ cấu làng nghề thủ công mỹ nghệ luan an 18 - Theo quan điểm của triết học thì cơ cấu dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống. Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Cơ cấu là tổng thể các bộ phận của hệ thống với quy mô, vị trí, các quan hệ tỷ lệ tương đối ổn định hợp thành trong một thời kỳ nhất định2.
Hoạt động của LN là quá trình tổ chức sản xuất, sử dụng các nguồn lực để biến đổi nguyên liệu đầu vào thành sản phẩm đầu ra phục vụ nhu cầu thị trường. Quá trình tổ chức sản xuất, sử dụng các nguồn lực được thực hiện bởi chính các cơ sở sản xuất trong LN. Do vậy cơ cấu LN phân tích dưới góc độ kinh tế học trung mô là biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành LN, các yếu tố cấu thành LN chính và chủ yếu bao gồm: Sản phẩm, Thị trường, Nguồn nhân lực, Công nghệ thiết bị, Vốn, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh. Vì vậy, cơ cấu LN là tổng hợp các cơ cấu của các yếu tố bên trong cấu thành LN.
- Hiện nay đang có một số khái niệm tái cơ cấu được sử dụng trong các văn bản chính thống của Việt Nam như khái niệm về tái cơ cấu kinh tế trong đề án tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 399/2013/QĐ-TTg ngày 19/2/2013, "Tái cơ cấu kinh tế là quá trình tiếp tục cải cách kinh tế nhằm đưa tới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế" 42. Khái niệm tái cơ cấu nông nghiệp trong đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 899/2013/QĐ-TTg ngày 13/6/2013, "Tái cơ cấu nông nghiệp là quá trình phát triển nông nghiệp gắn với bố trí, sắp xếp lại các chuyên ngành sản xuất theo nguyên tắc sử dụng tối đa lợi thế so sánh và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào để tạo ra hiệu quả kinh tế, năng lực cạnh cao hơn, bền vững hơn cho toàn ngành, là quá trình 2 Theo thư viện học liệu mở Việt Nam tại địa chỉ https://voer.vn/ luan an 19 phát triển gắn với thay đổi quy mô sản xuất của các ngành nhằm tạo ra các nông sản có chất lượng và giá trị cao, phù hợp với nhu cầu thị trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước, nâng cao thu nhập cho nông dân và đảm bảo tính bền vững" 5. Theo Nguyễn Đình Cung – Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương “Tái cơ cấu kinh tế là quá trình phân bố lại nguồn lực trên phạm vi quốc gia, nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung” 57, Tr1 LN đang bước vào thời kỳ phát triển và hội nhập. Việc duy trì và phát triển các LN đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Nhưng một điều ai cũng nhìn thấy sự yếu kém và nhiều khó khăn của các LN như: thiếu vốn; mặt bằng cho sản xuất chật hẹp; môi trường bị ô nhiễm; thị trường chưa được mở rộng; trình độ quản lý chậm được nâng cao, mẫu mã sản phẩm ít được đổi mới, công nghệ thiết bị lạc hậu, lao động trình độ tay nghề không cao… Vì vậy, cải thiện và tái cơ cấu từng LN, tổ chức lại mô hình quản lý SXKD nhằm khai thác tốt các lợi thế cạnh tranh, đồng thời duy trì giá trị truyền thống, cốt lõi của các LN, chúng ta mới đảm bảo phát triển LN một cách bền vững.