MỞ ĐẦU Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Tổng quan về phát triển làng nghề theo hƣớng bền vững 1. Khái niệm làng nghề và phát triển làng nghề theo hướng bền vững 1. Khái niệm và phân loại làng nghề * Khái niệm nghề truyền thống và làng nghề - Nghề truyền thống: Truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ các yếu tố, quan niệm, giá trị của cộng đồng người hay của giá trị lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Truyền thống biểu hiện tính kế thừa là chủ yếu tuy nhiên cũng có sự phát triển theo lịch sử. Truyền thống được biểu hiện ở hình thức: lễ hội truyền thống, truyền thống dòng họ, truyền thống học tập, nghề truyền thống. Nghề truyền thống là những nghề tiểu thủ công nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong tiến trình lịch sử, được sản xuất tập trung ở một vũng hay một làng nào đó và được truyền từ đời này qua đời khác (truyền nghề), lưu giữ kỹ thuật sản xuất (bí quyết nghề nghiệp), đúc kết kinh nghiệm làm nghề. Nghề truyền thống thường được lưu giữ trong một gia đình, một dòng họ, một làng hay một vùng.
Nghề thủ công truyền thống không chỉ bó hẹp trong phạm vi làng nghề mà còn mở rộng hơn như: xã nghề, phố nghề, phường nghề, hội nghề. Phố nghề là kết quả của quá trình đô thị hóa và mở rộng thị trường mới và những người thợ thủ công từ các làng nghề tụ họp lại trên cùng một địa điểm để sản xuất hoặc kinh doanh. Thí dụ: Thủ đô Hà Nội có phố nghề làm kim hoàn như vàng bạc, phố tiện gỗ Tô Lịch, phố cắt may áo dài Cầu Gỗ. Xã nghề để chỉ sự lan tỏa của nghề vượt khỏi phạm vi từ làng này sang làng khác.
8 Phường nghề, hội nghề là những người thợ thủ công cùng phường, nhóm họp lại thành tổ chức và luật lệ riêng. Ngoài ra còn phải nói đến tổ nghề là những người có đức, có công dạy nghề, hay phát minh ra nghề. Tổ nghề thì không nhất thiết là người ở địa phương đó. Một số làng tổ nghề được suy tôn là thành hoàng làng hoặc được lập miếu thờ.
Một nghề có thể thờ nhiều tổ nghề khác nhau ở các vùng khác nhau vì tổ nghề là người có công khởi xướng truyền thống ở một vùng, một địa phương. Như vậy, nghề truyền thống là những nghề phi nông nghiệp tồn tại trong một thời gian dài (trước Cách mạng Tháng Tám) và thường gắn với một địa phương nhất định. - Làng nghề: Lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với các thôn, làng và các làng nghề là đặc trưng cho truyền thống kinh tế, văn hoá của xã hội NT. Các làng nghề là cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, CN và NN, giữa NT và thành thị và là yếu tố quan trọng trong quá trình CNH, HĐH ở NT Việt Nam.
Theo nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng chỉ ra: “làng nghề là làng ấy, tuy có trồng trọt theo lối thủ nông và chăn nuôi (gà, lợn, trâu,…) làm một số nghề phụ khác (thêu, đan lát,…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng rộng xung quanh với thị trường đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài”1. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu đã xuất hiện thêm các quan điểm khác nhau về làng nghề: 1 Trần Quốc Vượng Quốc, Đỗ Thị Hảo (1996), Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề, NXB Văn hoá dân tộc, tr. 9 Quan điểm thứ nhất, “làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm.
Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương”2. Theo cách hiểu này, làng nghề là một đơn vị hành chính khu biệt, cư dân ở trong làng nghề cùng làm nghề và sinh sống bằng nghề. Quan điểm thứ hai, “làng nghề là làng ở NT có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập. Thu thập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng”3.
Cách hiểu này, đã nêu được hai yếu tố: Một là, làng (ở NT) và hai là, nghề (thủ công tách khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập), nên có khả năng bao quát hơn về các làng nghề ở Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, nó chưa phản ánh phù hợp với hiện trạng các làng nghề ở Việt Nam, tồn tại đan xen cả thủ công nghiệp và nông nghiệp, nhiều làng ở Việt Nam có nghề nhưng vẫn chưa được gọi là làng nghề. Quan điểm thứ ba, “làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian”4. Khái niệm về làng nghề nhấn mạnh đến khía cạnh văn hóa, mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hóa và xã hội liên quan tới chính người dân làng nghề.
2 Phạm Côn Sơn (2004), Làng nghề truyền thống Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc, tr. 3 Dương Bá Phượng(2001), Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 4 Lê Thị Minh Lý (2003), Làng nghề và việc bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể, Tạp chí Di sản văn hóa, số 4, tr. 10 Quan điểm thứ tư, “làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố là làng và nghề, làng nghề đó tồn tại trong một không gian nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chủ yếu, giữa họ có những mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa”5.
Khái niệm này, đề cập đến thiết chế kinh tế - xã hội, cơ sở tồn tại của làng gắn với nghề thủ công. Về mặt thực thể, khái niệm làng nghề được cấu thành từ hai thành tố cấu là “làng” và “nghề”. “Làng là một phạm trù dùng để chỉ một khối dân cư ở NT làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt và là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến”6. Làng là một tế bào xã hội của người Việt, một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng.
Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, tập hợp những người dân cùng sinh sống và sản xuất. Trên bình diện pháp lý, Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ quy định: “làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề NT, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Ngày nay, do tác động của quá trình đô thị hoá, có những làng nghề không còn chỉ nằm ở khu vực NT nữa. Qua khảo sát thực tiễn ở một số làng nghề cho thấy, các làng nghề này thường có từ 30 – 55 % số hộ chuyên làm nghề thủ công nghiệp trở lên”7.
Trên cơ sở quan niệm của các nhà khoa học về khái niệm làng nghề, kết quả nghiên cứu về hai yếu tố cấu thành của làng nghề là “làng” và “nghề” có thể rút ra nhận định sau: 5 Trần Minh Yến (2003), Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án bảo vệ tại viện kinh tế Việt Nam, tr. 6 NXB Đà Nẵng (1995), Từ điển Tiếng Việt, tr. 7 Dương Bá Phượng (2001), Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá, NXB Khoa học xã hội. 11 - Làng nghề là làng có một (hoặc một số) nghề thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập.
- Về mặt định lượng: làng nghề là làng có trên 30% số hộ hoặc trên 50% số lao động trong làng chuyên làm một, hoặc một số nghề thủ công nghiệp mà các hộ có thể sinh sống bằng chính nguồn thu nhập từ nghề đó, tức (thu nhập từ nghề chiếm trên 50% tổng giá trị thu nhập của làng). Như vậy, khái niệm làng nghề không bó hẹp ở những làng chỉ có những người chuyên làm các ngành nghề thủ công nghiệp và cũng không có một làng nào chỉ là những làng buôn bán đơn thuần theo cách phân chia trước đây. * Nhận diện làng nghề Việc nhận diện làng nghề là tìm ra những điều kiện cần, những tiêu chuẩn mực để từ đó xem xét đánh giá một làng nghề. Cơ sở khoa học và thực tiễn để nhận diện làng nghề là dựa trên những thành tố cơ bản liên kết bên trong các làng nghề, đồng thời dựa vào đặc điểm các làng nghề, cho phép chúng ta nhận làng nghề dựa trên bốn thành tố gắn kết chặt chẽ với nhau, để tạo thành những tiềm năng vững chắc cho sự phát triển mỗi làng nghề.
Một là, số hộ làm các nghề phi nông nghiệp, chiếm trên 30% trở lên số hộ trong làng. Thực tiễn chỉ ra, ở các làng được công nhận là làng nghề cho thấy, số hộ làm các nghề phi nông nghiệp đều có số hộ, số lao động làm nghề chiếm ưu thế lớn so với nghề nông. Ở các làng nghề địa phương đều có tỷ lệ làm nghề rất cao, có nơi chiếm đến 90% số lao động trong làng. Hai là, tỷ trọng giá trị doanh thu từ nghề chiếm trên 50% trong tổng doanh thu của làng trong năm.