Chương 1: Khái quát quan hệ Việt Nam - Nhật Bản và các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu rau quả sang Nhật Bản. Chương 2: Thực trạng xuất khâu mặt hang rau quả Việt Nam sang Nhật Bản giai đoạn 2015-2020. Chương 3: Giải pháp thúc day xuất khâu mặt hàng rau quả của Việt Nam sang Nhật Bản. KHÁI QUAT QUAN HE VIỆT NAM - NHAT BAN VA CAC NHAN TO ANH HUONG DEN XUAT KHAU RAU QUA SANG NHAT BAN 1.
Khai quát quan hệ Việt Nam — Nhật Bản Quan hệ Nhật Bản và Việt Nam được bắt đầu từ cuối thế kỷ XVI khi các nhà buôn Nhật đến Việt Nam dé buôn bán nhưng phải đến thé ki XX, Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào ngày 21 tháng 9 năm 1973. Sang đến 1992 thì Nhật Bản đã quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam và từ đó quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đã được phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực và đã bước sang giai đoạn mới, đi vào chiều sâu. Các mối quan hệ kinh tế chính trị, giao lưu văn hóa cũng không ngừng ngày càng được mở rộng đã hình thành nên khuôn khổ quan hệ ở tam vĩ mô đồng thời sự hiểu biết giữa hai nước ngày một được tăng lên. Nhật Bản là quốc gia nghèo về tài nguyên và đông dân.
Trong chiến tranh thế giới thứ 2, nền kinh tế nước này đã bị tàn phá nặng nề. Và từ sau chiến tranh đến nay, nền kinh tế của Nhật Bản trải qua bốn giai đoạn: từ năm 1945 đến năm 1954 Nhat Bản trải qua gia đoạn nhanh chóng phục hồi, giai đoạn phát triển cao độ (từ năm 1955 đến năm 1973), từ năm 1974 đến năm 1990 chuyền sang giai đoạn tăng trưởng chậm lại và bước sang giai đoạn trì trệ từ 1991 đến nay. Hiện nay, Nhật Bản vẫn là một cường quốc với nền kinh tế đứng thứ 3 thế giới ( sau Mỹ và EU) dù nề kinh tế gặp nhiều vấn đề nan giải. Chính quyền Thủ tướng Shinzo Abe từ khi trở lại nắm quyền tháng 12 năm 2012 đã triển khai chính sách đối ngoại với 3 trụ cột là: “Tăng cường quan hệ Nhật-Mỹ, Cải thiện mối quan hệ với các quốc gia láng giềng và ngoại giao phục vụ cho kinh tế”.
Nhật Bản lấy “Quốc gia hòa bình” làm nền tảng đã tích cực triển khai “Ngoại giao toàn cầu” dưới ngọn cờ “Chủ nghĩa hòa bình tích cực”, và đảm bảo 3 lợi ích: an ninh, chiến lược và kinh tế. Về lợi ích an ninh, quốc gia này tăng cường năng lực, nâng cao vai trò của minh và tăng cường uy lực của thé chế An ninh Nhật-Mỹ cũng như ngày càng gia tăng các mối quan hệ, xây dựng sự tin cậy, hợp tác với các đối tác trong và ngoài khu vực Châu á - Thái Bình Dương. Thứ hai là về “lợi ích chiến lược thông qua việc sử dựng nguồn vốn ODA” nhằm thúc đây “Chủ nghĩa hòa bình tích cực”. Cuối cùng là đảm bảo “lợi ích về kinh tế thông qua việc tăng cường quan hệ ngoại giao”.
Nhật Bản phát triển quan hệ với tất cả các khu vực, tham gia vào tất cả các thê chê kinh tê quôc tê và khu vực quan trọng. Ké từ ngày 21 tháng 09 năm 1973, Việt Nam và Nhật Ban đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia. Quan hệ Việt Nam-Nhật Bản trong những năm qua đã và đang ngày một phát triển toàn diện, sâu rộng và tốt đẹp hơn. Mối quan hệ này phát triển trên nhiều lĩnh vực khác nhau trên cơ sở hai bên dành sự tin cậy cao về chính trị.
Vào năm 1995, lần đầu tiên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã có chuyến thăm đầu tiên tới Nhật Bản và đây cũng là nước G7 đầu tiên đón Tổng Bí thư Việt Nam sang thăm. Sang đến năm 2009, Nhật Bản cũng là nước G-7 đầu tiên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với Việt Nam, nước G-7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam vào năm 2011 và là nước G-7 đâu tiên mời Việt Nam tham dự Hội nghi Thượng đỉnh G-7 mở rộng vào thang 5 năm 2016. Nhân chuyên thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Ban Junichiro Koizumi tháng 4/2002, Việt Nam-Nhật Bản đã thiết lập khuôn khổ quan hệ Đối tác tin cậy, ôn định lâu dài. Vào tháng 4 năm 2009, trong chuyến thăm chính thức cấp nhà nước của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh sang Nhật Bản, hai quốc gia đã nhất trí nâng cấp quan hệ lên thành “Đối tác chiến lược vì hòa bình và phon vinh ở châu Á”.
Tháng 10/2010, nhân chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan, hai bên đã đưa ra Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản về Phát triển toàn diện quan hệ Đối tác chiến lược vì mục tiêu hòa bình và phồn vinh ở châu Á,. Vào tháng 3 năm 2014, trong chuyên thăm cấp chính thức của Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đến Nhật Bản, Việt Nam và Nhật Bản đã nhất trí nâng cấp mối quan hệ hai nước lên thành “Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á”. Vào tháng 9 năm 2015, trong chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Nhật Bản, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra “Tuyên bố về tầm nhìn chung quan hệ Việt Nam - Nhật Bản”. Sau đó sang đến năm 2017, tình hình quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày một phát triển sâu rộng hơn, thân tín hơn và hiệu quả hơn nhờ chuyến thăm chính thức lần đầu tiên của Nhà vua và Hoàng hậu Nhật Bản từ 28 tháng 2 đến ngày 5 tháng 3 năm 2017 và chuyến thăm chính thức cấp Nhà nước sang Việt Nam của Thủ tướng Shinzo Abe vào tháng 1 năm 2017 đã đưa.
Việt Nam-Nhật Bản vẫn luôn duy trì tốt mối quan hệ thông qua các cơ chế đối thoại. Hai quốc gia van luôn dành cho nhau sự ủng hộ tại các diễn đàn đa phương như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc (UN), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Lâu nay Nhật Bản vẫn luôn là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Đây là nước G7 đầu tiên công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam sau khi chuyên đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp.
Hiện nay Việt Nam và Nhật Bản đang là thành viên của 3 hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương gồm: “Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản (AJCEP), Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản (VJFTA) và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Binh Dương (CPTPP)”. Các hiệp định thương mại tự do này đang mở ra rất nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi phát triển đối với hoạt động giao thương giữa hai nước. Hiện tại, 6 ngành của Việt Nam “ô tô, phụ tùng ô tô; máy nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông thủy sản; điện tử; công nghiệp môi trường; tiết kiệm năng lượng; đóng tàu” đang nhận được sự hỗ trợ từ đối tác Nhật Bản dé đưa những ngành này ngày một phát triển hơn. Về khía cạnh thương mại giữa hai quốc gia, Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam trong năm 2016 (sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ), kim ngạch xuất nhập khâu giữa hai quốc gia đạt 29,7 tỷ USD.
Xuất khâu của Việt Nam sang Nhật Ban đạt 14,6 ty USD, nhập khâu đạt 15 tỷ USD. Phan đấu đến hết năm 2020, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai quốc gia sẽ tăng gấp đôi. Vào tháng 1 năm 2017, trong chuyến thăm chính thức cấp Nhà nước của Thủ tướng Shinzo Abe sang Việt Nam, lãnh đạo của hai nước đã đồng ý cho phép nhập khẩu thanh long ruột đỏ của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản và cho phép xuất khẩu quả lê của Nhật Bản sang Việt Nam, điều này đã khiến cho kim ngạch thương mại hai nước riêng 4 tháng đầu năm 2017 đạt hơn 10 tỷ USD (tăng 16% so với cùng kỳ 2016). Về lĩnh vực đầu tư, Nhật Bản là quốc gia tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam.
Trong tông thé nguồn ODA của cộng đồng quốc tế đối dành cho Việt Nam, nguồn vốn ODA của Nhật Ban đã chiếm đến 30%. Vào tháng 1 năm 2017, cũng trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Shinzo Abe, hai bên đã ky hai một “công ham trao đổi” và hai “hiệp định vay vốn cho một số dự án ODA”, theo đó “Nhật Bản cam kết cung cấp thêm cho Việt Nam khoảng 120 tỷ Yên (xấp xi 1,05 tỷ USD) ODA vốn vay năm tài khóa 2016 cho 4 dự án gồm : Phòng chống thiên tai và biến đồi khí hậu sử dụng vệ tinh quan sát trái dat; bảo đảm an toàn và an ninh hàng hải; quản lý nước Bến Tre; hệ thống thoát nước, xử lý nước thải thành phố Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai) giai đoạn 1”. Hợp tác nông nghiệp giữa Việt Nam và Nhật Bản trong nhiều năm qua có bước đột phá khi mà hai bên đã ký kết “Tam nhìn trung và dài hạn trong hợp tác nông nghiệp Việt Nam - Nhật Bản” nhân chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào 9 năm 2015; ngoài ra, Nhật Bản cũng rất quan tâm đến các van đề về môi trường, tác động của thiên nhiên và biến đối khí hậu vì thế đã liên tục cung cấp ODA cho Việt Nam đối với các dự án ứng phó biến đổi khí hậu, thể hiện sự hợp tác cũng nhau chung tay ứng phó với sự biến đổi của khí hậu đang ngày một phát triên mạnh mẽ, ngày ngày gây ảnh hưởng đến cuộc sống của con người. Trong chuyến thăm chính thức cấp Nhà nước của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sang Nhật Bản và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G7 mở rộng, Thủ tướng Nhật Bản đã dành một khoản hỗ trợ không hoàn lại trị giá 2,5 triệu USD cho Việt Nam để ứng phó với biến đổi khí hậu khi mà tình trạng xâm nhập mặn, hạn hán xuất hiện ngày càng nhiều, ảnh hưởng trực tiếp đến cudc song của người dân đặc biệt với một quốc gia phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp như Việt Nam.
Đồng thời, phía Nhật Bản cho biết sẽ nghiên cứu các biện pháp đề hỗ trợ Việt Nam ứng phó lại tình trạng biến đối khí hậu. Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã cử nhiều tu nghiệp sinh sang học tập và làm việc tại Nhật Ban. Số người lao động và thực tập sinh Việt Nam tại Nhật rơi vào khoảng 72.