CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO CÔNG NHÂN SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nhu cầu Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
đây là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn về một cái gì đó , đồng thời mong muốn và tìm cách đạt được. Chúng ta có thể chia nhu cầu con người dựa theo các tiêu chuẩn khác nhau. Căn cứ vào sự tồn tại có hai loại nhu cầu: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất là nhu cầu cơ bản bảo đảm sự tồn tại của con người: nhu cầu thức ăn thức uống, nhà cửa, quần áo… Nhu cầu tinh thần cũng vô cùng đa dạng: Nhu cầu hoạt động, nhu cầu học tập, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu thể hiện, nhu cầu chính trị, nhu cầu công bằng xã hội… Căn cứ vào thứ bậc có thể chia thành nhu cầu bậc thấp, nhu cầu bậc cao hay theo Maslow có thể chia nhu cầu thành 5 thứ bậc như: Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu hoàn thiện.
Trong luận văn này, tác giả tiếp cận nhu cầu ở dạng nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Việc tìm hiểu đúng nhu cầu của người lao động từ đó có các biện pháp, công cụ phù hợp làm thỏa mãn nhu cầu của NLĐ, từ đó thúc đẩy họ tự giác tích cực làm việc, là điều mà các nhà quản trị, các doanh nghiệp quan tâm. Hiểu được nhu cầu của NLĐ là nhân tố quan trọng giúp cho các chính sách của doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ hơn với mong muốn, tâm tư của NLĐ, tránh được sự lãng phí nguồn lực và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng mong 12 muốn của NLĐ hơn. Khi đạt được điều này mức độ hài lòng của NLĐ về công việc và doanh nghiệp của mình sẽ tăng lên và vì vậy sẽ gắn bó và cống hiến nhiều hơn.
Thực tế hoạt động của các doanh nghiệp thành công cho thấy họ rất chú ý đến yếu tố này và coi đó là một chiến lược quan trong để giữ chân NLĐ. Động cơ Theo Trần Kim Dung (2015), “Động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động của con người (Cộng đồng, tập thể, xã hội) là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu đặt ra” [5]. Theo đó, động cơ là lý do hành động của con người, thúc đẩy con người làm những việc mà họ hy vọng sẽ đáp ứng được phần nào mong muốn và nguyện vọng của họ, đồng thời thúc đẩy con người hành động theo một cách thức mong muốn. Mỗi cá nhân đều có các nhu cầu khác nhau, do đó họ sẽ sẽ có những động cơ thúc đẩy khác nhau.
Động cơ càng cao thì sợ hối thúc càng mạnh và do đó họ làm việc càng tích cực chăm chỉ, cố gắng trong công việc và thường đạt được năng suất, chất lượng công việc cao hơn những người không có hoặc có ít động cơ. Thực tế thì động cơ rất trừu tượng và khó xác định, bởi lẽ, động cơ của con người hết sức phong phú và đa dạng, có liên quan và xuất phát từ nhu cầu của từng cá nhân. Động cơ có 03 (ba) đặc tính: Thứ nhất, động cơ thường bị che dấu bởi bản chất thật và nhiều lý do khác nhau như: yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội, xuất thân, nhân sinh quan của mỗi người. Thứ hai, động cơ luôn luôn biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người sẽ có những nhu cầu và động cơ khác nhau.
Thứ ba, động cơ của mỗi cá nhân rất phong phú, đa dạng, phức tạp và thường mâu thuẫn với nhau. 13 Để phân tích và xác định chính xác động cơ của từng cá nhân, cần phải phân tích và xác định động cơ quan trọng nhất “số một” và biết cải biến những động cơ đó đối với từng cá nhân cụ thể sao cho phù hợp với tiêu chuẩn, khả năng đáp ứng của tổ chức. Động cơ thường được giải thích như nguyên nhân hối thúc con người tích cực hành động và làm việc, được ví như nơi khởi sự, tạo ra nguồn lực có tác dụng thúc đẩy hành động của con người. Thông thường động cơ được hình thành từ các nhu cầu của chính các cá nhân.
Lợi ích Lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu, là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người, còn nhu cầu lại là yếu tố quan trọng nhất của tạo động lực lao động. Do đó, nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhu cầu thì sẽ không có lợi ích và ngược lại khi nhu cầu từ vật chất và tinh thần thì lúc đó động lực tạo ra sẽ càng lớn. Nhu cầu của con người thì nhiều, nhưng mức độ thỏa mãn và đáp ứng thì có giới hạn tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của tổ chức. Khi làm việc cho tổ chức NLĐ bao giờ cũng quan tâm là họ sẽ được gì khi làm việc cho tổ chức, chính vì vậy, lợi ích phải là những biểu hiện cụ thể của việc thỏa mãn nhu cầu cho NLĐ, càng không phải là những lời hứa suông, không mang lại ích lợi gì đối với họ.
Sự thất hứa hoặc những lợi ích viễn vông không có thực chỉ có tác dụng gieo cho họ sự hy vọng, còn hy vọng càng lớn bao nhiêu mà không đạt được lại làm chọ họ trở nên thất vọng bấy nhiêu. Động lực lao động Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, 14 nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [8, tr. Động lực lao động càng mạnh thì sự tích cực, tự giác, sẵn sàng của NLĐ càng lớn, và do đó là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc.
Động lực lao động chính là chiếc chìa khóa lên dây cót tinh thần để con người tìm thấy sự yêu thích, hào hứng với công việc mà họ đang làm. Từ sự thích thú đó, con người sẽ cảm thấy mong muốn được cống hiến và nỗ lực hoàn thành tốt công việc của mình. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của người lao động. Tóm lại có thể hiểu, động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Công nhân sản xuất Dựa trên quan điểm nghiên cứu của tác giả, công nhân sản xuất gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định Đặc điểm của công nhân sản xuất: - Là người trực tiếp tạo ra sản phẩm - Là người vận hành máy móc, công cụ lao động, tác động vào đối tượng sản xuất để tạo ra sản phẩm, - Không gian làm việc của họ là các phân xưởng, nhà máy và tạo ra sản phẩm vật chất hữu hình - Đa số CNSX không trực tiếp tham gia phân phối hay tiêu thụ sản phẩm, nếu có chỉ là công đoạn chăm sóc khách hàng, bảo hành, bảo dưỡng, hướng dẫn khách hàng cách sử sụng hay kỹ thuật vận hành, sử dụng bảo đảm đúng quy trình, kỹ thuật, bảo đảm an toàn. 15 - CNSX không nhất thiết phả có trình độ học vấn, trình độ quản lý cao, mà chủ yếu là có kỹ năng, kinh nghiệm, chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề - Điều kiện làm việc của CNSX thường phải tiếp xúc trực tiếp với môi trường sản xuất vật chất, tiềm ẩn nhiều rủi ro mất an toàn lao dộng, vệ sinh công nghiệp, bệnh nghề nghiệp. - Ngoài những CN điều hành dây truyền sản xuất tự động hóa hay được số hóa, có ứng dụng máy móc, kỹ thuật công nghệ hiện đại, còn đa phần là lao động chân tay, tiêu hao năng lượng cơ bắp hơn là áp lực trí tuệ và thần kinh. - Nguy cơ mất việc làm do thay đổi công nghệ, kỹ thuật cú CNSX cao hơn so với lao động gián tiếp, lao động quản lý.
- CNSX chịu sự quản lý và điều lành của lao động quản lý, sự hướng dẫn kỹ thuật của chuyên gia, nhân viên phụ trách kỹ thuật, họ chỉ phục tùng theo sự hướng dẫn, chỉ dẫn của những cán bộ trên, ít có cơ hội sáng tạo theo cái mới khi chưa được sự đồng ý của cán bộ quản lý. - Hoạt động sản xuất của công nhân sản xuát không mang tính mùa vụ, các sản phẩm họ làm ra là theo yêu cầu của các nhà quản trị - Công nhân sản xuất không cần trải qua quá trình đào tạo bài bản mà ngược lại khi họ được nhận vào làm có thể ngay lập tức sử dụng được các thiết bị. - Ngoài những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, mức lương của CNSX bao giờ cũng thấp hơn so với lao động quản lý. Theo nội dung công việc của công nhân sản xuất, công nhân sản xuất được chia thành như sau: - Công nhân sản xuất chính - Công nhân sản xuất phụ trợ - Công nhân của các hoạt động khác 16 Theo năng lực và trình độ chuyên môn, công nhân sản xuất được phân thành các loại: - Công nhân tay nghề cao: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế, có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao.
- Công nhân có tay nghề trung bình: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn, nhưng thời gian công tác thực tế chưa nhiều hoặc những người chưa được đào tạo qua trường lớp chuyên môn nhưng có thời gian làm việc thực tế tương đối lâu được trưởng thành do học hỏi từ thực tế. Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu đối tượng công nhân sản xuất gạch và là người tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm của công ty.