Chương I – Luật du lịch Việt Nam (năm 2017): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩ du lịch, khu du lịch, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu 15 cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa” Tài nguyên du lịch là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển du lịch. Nếu không có tài nguyên du lịch hoặc tài nguyên du lịch quá nghèo nàn thì hoạt động du lịch không thể phát triển mạnh mẽ được. Vai trò của tài nguyên du lịch đối với hoạt động du lịch được thể hiện ở các mặt sau: - Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch.
- Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch. - Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ cư lịch. Tài nguyên du lịch tự nhiên Theo khoản 1 - Điều 15 – Chương III – Luật du lịch Việt Nam (2017): “Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch” Tài nguyên du lịch tự nhiên có vai trò quan trọng đối với hoạt động du lịch, là cơ sở để tổ chức các hoạt động du lịch, các loại hình du lịch tận dụng nguồn tài nguyên vốn có, sức hấp dẫn của nó để thu hút khách du lịch đem lại nguồn ngoại tệ lớn từ hoạt động du lịch. Các thành phần của tự nhiên có tác động mạnh nhất đến du lịch là địa hình, khí hậu, nguồn nước và tài nguyên thực động vật.
- Địa hình Địa hình hiện tại của bề mặt Trái Đất là sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài. Mọi hoạt động sống của con người trên cùng một lãnh thổ đều có sự phụ thuộc vào địa hình. Đối với hoạt động du lịch, quan trọng hơn cả là đặc điểm hình thái của địa hình, nghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn đối với du khách. + Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng; chúng được phân biệt bởi độ cao tương đối: núi (trên 100m), đồi (10 - 100m), đồng bằng (dưới 10m).
Khách du lịch thường ưa thích những nơi có phong cảnh đẹp, đa dạng. Những vùng có nhiều đồi, núi và thường tránh những nơi bằng phẳng mà họ cho là tẻ nhạt, không thích hợp với du lịch. + Trong các loại địa hình thì miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch. Đây là các khu vực thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông, các nhà an dưỡng, trạm nghỉ, các cơ sở chuyển tiếp lộ trình, các đỉnh núi cao có thể nhìn thấy toàn cảnh và thích hợp với môn thể thao leo núi.
Trong miền núi, cùng với địa hình thì khí hậu và động thực vật tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có khả năng tổ chức các loại hình du lịch ngắn ngày cũng như dài ngày. Ngoài các dạng địa hình chính, với ý nghĩa phục vụ du lịch cần chú ý đến những kiểu địa hình đặc biệt, có giá trị rất lớn cho tổ chức du lịch như kiểu địa hình karstơ và kiểu địa hình ven bờ biển. + Địa hình các-xtơ là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong các đá dễ hoà tan (đá vôi, đôlômit, thạch cao…). Ở nước ta chủ yếu là đá vôi.
Một trong những dạng địa hình các-xtơ được quan tâm nhất đối với du lịch là 16 các hang động các-xtơ. Ngoài ra, các kiểu địa hình các-xtơ khác cũng có giá trị lớn như kiểu các-xtơ ngập nước và các-xtơ đồng bằng. + Địa hình ven bờ các kho chứa nước lớn (đại dương, biển, hồ…) có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch, có thể khai thác để phát triển nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ mát, tắm biển, thể thao dưới nước… - Khí hậu Tài nguyên khí hậu được xác định trước hết là tổng hợp của các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm không khí và một số yếu tố khác nhau như: áp suất khí quyển, thành phần lý hoá của không khí, gió, lượng mưa, ánh sáng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt. Trong hoạt động du lịch khí hậu thu hút đối tượng tham gia và tổ chức du lịch thông qua các chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người.
Nhu cầu của du khách thường đến những nơi có điều kiện khí hậu điều hoà, thuận lợi cho sức khỏe. Các yếu tố của khí hậu thích hợp hoặc không thích hợp cho sức khỏe của du khách và phát triển du lịch thể hiện qua bảng chỉ tiêu khí hậu đối với sinh học của con người. Là nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các hoạt động du lịch, khí hậu có tác động trực tiếp lên cả cung và cầu du lịch, tạo nên tính mùa vụ trong du lịch. Khí hậu có tính chất quyết định đối với độ dài của thời vụ du lịch, đóng vai trò chính trong việc hạn chế sự cân bằng của các cuộc hành trình du lịch.
Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng (mùa du lịch cả năm, mùa đông, mùa hè). - Nguồn nước Tài nguyên nước phục vụ mục đích du lịch khá đa dạng, bao gồm: nước trên mặt, nước dưới đất và các nguồn nước khoáng. Trong đó, nước trên mặt có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch. Giới hạn nhiệt độ lớp nước trên mặt thích hợp nhất cho hoạt động du lịch tối thiểu là 18 - 200C.
Các đối tượng nước chính được khai thác phục vụ du lịch tập trung trên mặt là các dải bờ biển, mạng lưới sông ngòi, ao, hồ, các suối, thác nước tự nhiên hoặc nhân tạo. Nguồn nước trên mặt không chỉ cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của khu du lịch mà còn tạo ra các loại hình du lịch đa dạng như du lịch hồ, du lịch sông nước. Trong tài nguyên nước cần đặc biệt chú ý đến nguồn nước khoáng. Nước khoáng là nước thiên nhiên (chủ yếu ở dưới đất) chứa một số thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hoá học, các khí, các nguyên tố phóng xạ) hoặc có một số tính chất vật lý, (nhiệt độ, độ pH) có tác dụng đối với sức khoẻ con người.
Đây là nguồn tài nguyên có giá trị cho du lịch, nghỉ ngơi, an dưỡng và chữa bệnh; có sức hấp dẫn cao đối với nhiều du khách. - Sinh vật Tài nguyên sinh vật là dạng tài nguyên đặc biệt, có giá trị tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, khám phá và nâng cao nhận thức cho du khách. Đối với một số loại hình du lịch như du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu khoa học thì tài nguyên sinh vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở tính đa dạng sinh học, sự bảo tồn các nguồn gen quý giá đặc trưng cho các vùng tự nhiên khác nhau 17 trên thế giới. Tài nguyên du lịch văn hóa Theo khoản 2 - Điều 15 – Chương III – Luật du lịch Việt Nam (2017): “Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể sử dụng cho mục đích du lịch” - Di tích lịch sử - văn hoá Di tích lịch sử văn hóa nói chung có thể được phân chia thành: các di tích văn hoá khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hoá - nghệ thuật và các danh lam thắng cảnh.
DTLSVH là tài sản quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hoá của mỗi nước, mang những dấu ấn đậm nét về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá - nghệ thuật của mỗi quốc gia qua các thời đại lịch sử. Để đánh giá ý nghĩa của các di tích lịch sử văn hóa phục vụ mục đích du lịch, cần chú ý một số chỉ tiêu thể hiện số lượng và chất lượng di tích: + Số lượng di tích (tất cả các loại) + Mật độ di tích (tất cả các loại) + Số lượng di tích được xếp hạng (ý nghĩa của chúng) + Số lượng di tích đặc biệt quan trọng Hai chỉ tiêu đầu phản ánh về mặt số lượng các di tích trên lãnh thổ, còn hai chỉ tiêu sau thể hiện mặt chất lượng của các di tích. Mỗi chỉ tiêu nói trên có một ý nghĩa khác nhau, nhưng quan trọng hơn cả là chỉ tiêu mật độ di tích và chỉ tiêu số lượng di tích được xếp hạng.
Đây được coi là những chi tiêu quan trọng nhất về mặt số lượng cũng như chất lượng di tích. - Lễ hội và văn nghệ dân gian Lễ hội và văn hóa dân gian là loại hình sinh hoạt văn hoá độc đáo, đa dạng và phong phú của nhân dân. Sức hấp dẫn của các lễ hội và văn hóa dân gian đối với hoạt động du lịch bởi lẻ “nó tạo nên tấm thảm muôn màu mà mọi sự ở đó đan quyện vào nhau; thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, giàu có và khốn khổ, cô đơn và đoàn kết, trí tuệ và bản năng. Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới, huyền diệu, giúp cho con người có điều kiện tiếp xúc với bí ẩn của nguồn khởi mọi sinh vật sống.
Lễ hội dân tộc trở thành dịp cho con người hành hương về với cội rễ, bản thể của mình. Trong kho báu di sản của quá khứ để lại cho chúng ta hôm nay, các lễ hội dân tộc có lẽ là một trong những thứ quý giá nhất. Vì thế, các lễ hội lành mạnh không bị mất đi mà ngày càng được nhân rộng, phát triển cả về hình thức lẫn nội dung. Lễ hội gồm có hai phần: phần lễ và phần hội.
Đánh giá các lễ hội phục vụ mục đích du lịch cần lưu ý các đặc điểm về: tính thời gian của lễ hội, quy mô của lễ hội và một số hình thức lễ hội chính.