Chương 1 đề cập đến một số nội dung cơ bản có vai trò làm cơ sở luận cho các hoạt động du lịch và lữ hành sau: 8 - Giới thiệu và phân tích những khái niệm cơ bản có liên quan đến du lịch nói chung và hoạt động lữ hành như: Du lịch; Khách du lịch; Sản phẩm du lịch; Tài nguyên du lịch; Lữ hành; Nghiệp vụ lữ hành;… - Phân loại, giới thiệu ý nghĩa và đưa ra quy trình tác nghiệp cơ bản đối với các hoạt động kinh doanh chính trong lĩnh vực lữ hành là: Hoạt động tổ chức vận chuyển khách du lịch; Hoạt động tổ chức lưu trú cho khách du lịch; Hoạt động tổ chức ăn uống cho khách du lịch; Hoạt động tổ chức hướng dẫn tham quan cho khách du lịch và Hoạt động tổ chức thực hiện các dịch vụ bổ sung khác trong chương trình du lịch… 1. Những khái niệm cơ bản 1. Du lịch Có rất nhiều ý kiến và quan niệm liên quan đến khái niệm “du lịch”. Mỗi nhà nghiên cứu, mỗi học giả lại có một quan niệm về du lịch khác nhau tùy thuộc vào nội dung nghiên cứu và hướng tiếp cận của mình.
Ở chương này của giáo trình sẽ đề cập đến một số khái niệm về du lịch để lột tả bản chất và các yếu tố cấu thành hoạt động du lịch dưới góc độ nghiệp vụ lữ hành và thiết kế chương trình du lịch. Theo Từ điển Tiếng Việt, du lịch được giải thích là: “Đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở” [25, tr. Như vậy, hoạt động du lịch là hoạt động ở “xứ lạ”, muốn “du lịch” thì trước hết là phải “đi” nhưng là đi “xa” (chứ không phải đi “gần”, tức là phải có sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Nói cách khác, hoạt động đầu tiên mà nhà thiết kế chương trình du lịch phải quan tâm là hoạt động “Vận chuyển”.
Theo Giáo sư Nguyễn Văn Lê: “Du lịch là việc đi lại, lưu trú tạm thời ở bên ngoài nơi thường trú của cá nhân với mục đích thỏa mãn các nhu cầu đa dạng” [11]. Như vậy, du lịch, chính là nhằm thỏa mãn những nhu cầu đa dạng của con người. Hoạt 9 động du lịch được thực hiện ở bên ngoài nơi thường trú của người đi du lịch. Vì vậy khi thiết kế chương trình du lịch nhà thiết kế phải quan tâm đến hoạt động lưu trú, ăn uống và các hoạt động tham quan giải trí khác.
Theo Tiến sĩ Đinh Trung Kiên: “Du lịch là sự kết hợp các giá trị của các tài nguyên tự nhiên và nhân văn với các dịch vụ hàng hóa để tạo sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của khách” [10]. Với lập luận trên, Tiến sĩ Đinh Trung Kiên đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sản phẩm du lịch (SPDL) trong hoạt động du lịch. Ở đây, chúng ta nhận thấy rằng khái niệm về du lịch là một khái niệm khá rộng cả về lý luận và thực tiễn… Tại Hội nghị quốc tế về Du lịch họp tại Roma, Italia (diễn ra từ 21/8 - 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” [17, tr.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO1): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, nhằm mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các hoạt động đi lại mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”. Một số học giả khác lại đưa ra khái niệm du lịch rất ngắn gọn, nhưng nó cho thấy một cách tiếp cận mới về du lịch, toàn diện và bản chất hơn. Trong số đó có khái niệm của Viện sĩ 1 UNWTO: United National World Tourism Organization.
10 Nguyễn Khắc Viện: “Du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người” [17, tr. Theo đó, bản chất của hoạt động du lịch là đi lại để mở rộng “không gian văn hóa” của con người. Từ khái niệm này có thể rút ra rằng hoạt động du lịch không chỉ làm con người phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác (tức là không chỉ di chuyển theo nghĩa đen) mà du lịch còn có ý nghĩa mở rộng không gian văn hóa của con người, thay đổi hoặc bổ sung nhận thức của họ (di chuyển theo nghĩa bóng). Nói cách khác, du lịch làm con người trở nên “động” hơn.
Tiến sĩ Trần Nhạn thì cho rằng “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền” [17, tr. Trong khái niệm này, tác giả đã đưa ra một thuật ngữ mới là “thẩm nhận” với mục đích lột tả bản chất của vấn đề du lịch. Như vậy, với Tiến sĩ Trần Nhạn, việc tổ chức cho khách đi du lịch phải thỏa mãn một yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất đó là khách du lịch phải “thẩm nhận” được những “giá trị vật chất và tinh thần” sau chuyến đi của họ. Hiểu theo cách khác là: Nếu tổ chức cho khách đi du lịch (mặc dù trong chương trình cũng có các dịch vụ vận chuyển, có lưu trú, có ăn uống, có tham quan và có những dịch vụ bổ sung khác…) mà sau đó khi trở về khách vẫn không thẩm nhận được điều gì thì việc tổ chức đó coi như không đạt được mục đích.
Những nhận định trên của Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện và của Tiến sĩ Trần Nhạn đã giúp cho các nhà tổ chức du lịch, tổ chức lữ hành, các Hướng dẫn viên du lịch rút ra bài học lớn trong nghề nghiệp của mình đó là: Làm du lịch phải có cái “Tâm”, phải có tình yêu nghề nghiệp. Phải lấy việc thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch làm mục tiêu cho các hoạt động của mình. Đó chính là điều kiện “cần và đủ” để dẫn đến thành công trong nghiệp vụ lữ hành. 11 Theo Điều 4, Luật Du lịch Việt Nam2: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [14, tr.
Khách du lịch Cũng tương tự như khái niệm về du lịch, có rất nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến khái niệm “khách du lịch”. Theo Từ điển tiếng Việt, ý nghĩa cơ bản của từ “Khách” là người “từ nơi khác đến với tính cách xã giao trong quan hệ với người đón tiếp, tiếp nhận” [25, tr. “Khách”, rõ ràng phải được định nghĩa từ phía nơi đón tiếp chứ không phải từ nơi đi. Theo Luật Du lịch Việt Nam, thì: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [14, tr.
Để đảm bảo tính chính xác, cụ thể thì khái niệm về khách du lịch còn được phân ra thành các khái niệm: - Khách du lịch nội địa: “Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam” [14, tr. - Khách du lịch quốc tế: “Là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch (còn gọi là khách Inbound) và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch” (còn gọi là khách Outbound) [14, tr. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) thì: “Khách du lịch là những người thực hiện hoạt động rời khỏi nơi cư trú 2 Luật Du lịch Việt Nam số 44/2005/QH11 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 7, Khóa XI, ngày 24 tháng 6 năn 2005. Có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2006.
12 thường xuyên của mình để đến một hay nhiều nơi khác trong thời gian từ hai mươi bốn giờ trở lên đến dưới một năm. Nhằm sử dụng thời gian nhàn rỗi cho các nhu cầu văn hóa, sức khỏe, giải trí, học hỏi hay nhu cầu kinh doanh, gặp gỡ và thăm viếng…”. Như vậy, theo UNWTO, những người cũng đi lại để hưởng thụ những giá trị du lịch nhưng thời gian dưới 24 giờ thì không gọi là Khách du lịch (đối tượng này còn được gọi là Khách tham quan). Trong nghiệp vụ lữ hành, các nhà tổ chức sẽ không tính đến các dịch vụ lưu trú thậm chí cả dịch vụ ăn uống cho các đối tượng là Khách tham quan.
Những khái niệm và lập luận về Khách du lịch nêu trên đã cho phép rút ra bài học rất quan trọng trong nghiệp vụ lữ hành là: Phải phân định rõ và chính xác các đối tượng khách du lịch để có các dịch vụ phù hợp, các giải pháp thiết thực nhằm phục vụ họ một cách tốt nhất. Sản phẩm du lịch 1. Khái niệm sản phẩm du lịch Hoạt động kinh doanh du lịch thành công hay thất bại, mức độ phát triển của ngành công nghiệp du lịch phụ thuộc rất lớn vào sản phẩm du lịch. Có rất nhiều quan niệm về sản phẩm du lịch: - Theo các nhà du lịch Trung Quốc, sản phẩm du lịch bao gồm hai mặt chính: + Xuất phát từ đích tới du lịch, sản phẩm du lịch là chỉ toàn bộ dịch vụ của nhà kinh doanh du lịch dựa vào vật thu hút du lịch cung cấp cho khách du lịch để thỏa mãn nhu cầu hoạt động du lịch.
+ Xuất phát từ góc độ người đi du lịch, sản phẩm du lịch chỉ quá trình du lịch một lần do khách du lịch bỏ thời gian, chi phí và sức lực nhất định để đổi được. 13 Theo Tiến sĩ Thu Trang Công Thị Nghĩa, Tiến sĩ Sử học, Ủy viên đoàn Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp: “Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm tiêu dùng đáp ứng cho nhu cầu của du khách, nó bao gồm di chuyển, ăn ở và giải trí”.