Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TAI NẠN LAO ĐỘNG TRONG LÀNG NGHỀ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tai nạn lao động 1. Tình hình nghiên cứu về tai nạn lao động ở nước ngoài Nghiên cứu về tai nạn lao động đã được các quốc gia thực hiện từ lâu. Tổ chức lao động thế giới (ILO) đã thực hiện những nghiên cứu tổng quát về tình hình tai nạn lao động trên toàn thế giới.
ILO ước tính mỗi năm có khoảng 2,3 triệu lao động trên toàn thế giới gặp phải TNLĐ hoặc bệnh nghề nghiệp (BNN); Điều này tương ứng với hơn 6000 ca tử vong mỗi ngày. Trên toàn thế giới, có khoảng 340 triệu vụ TNLĐ và 160 triệu nạn nhân mắc các BNN mỗi năm. ILO cập nhật những ước tính này theo định kỳ và những cập nhật này cho thấy số lượng tai nạn và bệnh tật đang gia tăng [11]. Theo Mark Aldrich, Đại học Smith, sự nguy hiểm trong công việc thường được đo bằng số lượng thương tích hoặc tử vong xảy ra với một nhóm công nhân trong khoảng thời gian một năm.
Trong thế kỷ qua, những biện pháp cải thiện điều kiện làm việc đã cho thấy sự cải thiện đáng kể về an toàn lao động ở tất cả các nước tiên tiến. Khoảng những năm 1900, người sử dụng lao động ở Mỹ ít quan tâm đến vấn đề an toàn. Khi tai nạn lao động xảy ra, toàn án thường xét lỗi là do người lao động, do vậy chỉ khoảng một nửa số công nhân bị thương nặng được bồi thường và mức bồi thường khá thấp không đủ để người lao động chữa bệnh [12]. Điều kiện lao động và việc đảm bảo an toàn cho người lao động có mối liên quan mật thiết với nhau.
Nếu điều kiện lao động tốt, quan hệ lao động hài hòa thì người lao động ít gặp rủi ro, tai nạn. Nếu điều kiện lao động không tốt sẽ dẫn tới nguy cơ chấn thương, tai nạn dẫn tới tăng chi phí lao động xã hội và giảm năng suất lao động. Theo nghiên cứu của Selcuk Gumus và cộng sự (2020), ở các nước đang phát triển, khai thác gỗ là một công việc sử dụng nhiều lao động, được thực hiện trong điều kiện địa hình khó khăn và sử dụng vật liệu nặng. Điều này 6 khiến cho công nhân thu hoạch gỗ phải đối mặt với nhiều nguy hiểm do tính chất công việc hoặc môi trường làm việc của họ.
Các hoạt động khai thác gỗ được thực hiện bởi những người dân sống ở các khu vực gần rừng. Họ là công nhân thời vụ và không có bất kỳ bảo hiểm y tế nào liên quan đến công việc khai thác gỗ hoặc đào tạo nghề. Điều này ngăn cản việc tạo cơ sở dữ liệu về TNLĐ và BNN liên quan đến việc khai thác gỗ [14]. Nghiên cứu của Hailemichael Mulugeta và cộng sự (2020) cho thấy, máy, thiết bị được sử dụng và điều kiện làm việc (ĐKLV) trong các hoạt động chế biến gỗ rất nguy hiểm và có thể dẫn đến thương tích nghề nghiệp nghiêm trọng.
Sự hiện diện của các thiết bị quay, lưỡi cắt hoặc xén không được bảo vệ là những nguyên nhân gây thương tích trong xưởng gỗ. Vì khu vực này được coi là nền kinh tế phi chính thức, nên các quyền của NLĐ, dịch vụ giám định lao động, tiếp cận các dịch vụ sức khỏe nghề nghiệp và ghi nhận hoặc thông báo thương tích đã bị xâm phạm đáng kể. Việc ngăn ngừa thương tích nghề nghiệp cần có sự giám sát, quy định, năng lực và cam kết phù hợp của các nhà quản lý nơi làm việc [8]. Một số nghiên cứu từ các cơ sở có thu nhập thấp đã báo cáo tỷ lệ chấn thương nghề nghiệp cao hơn trong lĩnh vực sản xuất MSE.
Các nghiên cứu về tỷ lệ chấn thương nghề nghiệp ở Ethiopia, Ghana và Zimbabwe cho thấy rằng người lao động rất dễ bị chấn thương trong lĩnh vực này. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các ĐKLV liên quan đến tiếp xúc với máy thiết bị, căng thẳng liên quan đến công việc, không hài lòng với công việc và không gian làm việc không đầy đủ có liên quan đáng kể đến chấn thương nghề nghiệp. Ngoài ra, các đặc điểm hành vi của người lao động như hút thuốc, thiếu sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân cũng cho thấy mối liên hệ đáng kể với thương tích [13]. Nghiên cứu của Job Ewudzie và cộng sự (2016) chỉ ra rằng tai nạn không phụ thuộc vào thời gian làm việc của một công nhân.
Nó một lần nữa cho thấy rằng máy đóng trục chính có tỷ lệ tai nạn cao nhất trong số các máy 7 làm đồ gỗ. Về hệ thống ghi lại các vụ tai nạn trong xưởng gỗ và xưởng xẻ, 54,0% số người được hỏi chỉ ra rằng họ không có hệ thống ghi lại các vụ tai nạn. Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra rằng bảo trì sự cố ghi nhận tỷ lệ cao nhất là 48. 3% trong số năm loại tai nạn liên quan đến bảo trì máy thiết bị.
Về việc cung cấp phương tiện bảo vệ cá nhân (PPE), 8,6% người sử dụng lao động cho biết họ cung cấp cho nhân viên mặt nạ phòng độc, kính bảo hộ, bịt tai, ủng bảo hộ và áo khoác. Ngoài ra, 15,7% cung cấp mặt nạ phòng độc và kính bảo hộ và 30% chỉ cung cấp mặt nạ phòng độc trong khi 45,7% không cung cấp bất cứ thứ gì. Hơn nữa, 62,0% người quản lý và giám sát trả lời rằng họ không có chương trình đào tạo thợ máy [13]. Nghiên cứu của Holcroft và Punnett (2009) trong sản xuất sản phẩm gỗ đã xác định một số yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đối với thương tích nghề nghiệp: thiếu các thiết bị an toàn (ví dụ: bảo vệ máy, tay cầm dụng cụ được thiết kế kém và các lỗ bảo vệ máy); thiết bị đạt yêu cầu; trọng lượng và vị trí của tải trọng được xử lý thủ công; làm việc theo ca; tăng ca; tốc độ làm việc nhanh chóng; công việc lặp đi lặp lại; và nhịp độ máy.
Các yếu tố khác có liên quan đến chấn thương nghề nghiệp trong sản xuất sản phẩm gỗ liên quan đến nhân khẩu học và hành vi lối sống của người lao động, kinh nghiệm làm việc, điều kiện làm việc kém. Thời gian làm việc bị mất cho thấy mức độ nghiêm trọng của chấn thương/ bệnh tật. Năm 2011, tổng tỷ lệ thương tật và thương tích do tiếp xúc với thiết bị (bao gồm cả cưa) dẫn đến nghỉ làm là 98,3% trên 10.000 nhân viên toàn thời gian ở tất cả các ngành công nghiệp tư nhân của Hoa Kỳ trong sản xuất sản phẩm gỗ. Các chấn thương nghề nghiệp thường được báo cáo bao gồm rối loạn cơ xương (MSDs); trượt, trượt và ngã (STFs); vết rách; và cắt cụt chi.
So với tỷ lệ tiếp xúc với đối tượng là 98,3 trên 10.000 nhân viên toàn thời gian, tỷ lệ mắc STFs dẫn đến những ngày nghỉ việc trung bình là 14,5 (giảm cùng cấp), 7,8 (giảm xuống cấp thấp hơn) và 2,2 (trượt hoặc đi không có ngã) thương tích trên 10.000 nhân viên toàn thời gian trong sản xuất sản phẩm gỗ. Tỷ lệ mắc tổng số MSDs cũng ít hơn so với tiếp xúc với các đối 8 tượng với 47,7 thương tích trên 10.000 nhân viên toàn thời gian trong sản xuất sản phẩm gỗ. [10] Một nghiên cứu của Helena Eri Shimizu và cộng sự (2021), từ năm 2004, Brazil đã có chính sách quốc gia về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp. Chính sách này có nghĩa là gánh nặng thuế của các công ty được thay đổi tùy theo số vụ tai nạn liên quan đến công việc và tình trạng sức khỏe kém của người lao động.
Năm 2010, một hệ số nhân đã được đưa vào chính sách này, được gọi là Hệ số phòng ngừa tai nạn. Ý tưởng của hệ số nhân mới này là khuyến khích cá nhân NSDLĐ thực hiện các sáng kiến nhằm ngăn ngừa tai nạn và bệnh tật tại nơi làm việc. Nghiên cứu này được thiết kế để điều tra tỷ lệ xảy ra tai nạn lao động và bệnh tật ở Brazil theo nguyên nhân, mức độ nghiêm trọng và hoạt động kinh tế xảy ra, đồng thời so sánh dữ liệu trước và sau khi áp dụng Phòng ngừa tai nạn. Kết quả là, tỉ lệ mắc tai nạn, bệnh tật liên quan đến công việc đều giảm ở tất cả các nhóm nguyên nhân được phân tích, ngoại trừ nhóm “nguyên nhân bên ngoài gây ra bệnh tật và tử vong” và “các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc với các dịch vụ y tế”.
Các bệnh về hệ thống cơ xương và mô liên kết cũng như các bệnh về hệ thần kinh đã giảm nhiều hơn. Tỷ lệ TNLĐ và BNN giảm ở các hoạt động kinh tế khác nhau và ở các nhóm mức độ nghiêm trọng khác nhau. Mức giảm cao nhất sau khi áp dụng Hệ số phòng ngừa tai nạn là ở lĩnh vực sản xuất, chế tạo (p < 0,05) [9]. Như vậy có thể thấy rằng, các nghiên cứu trên thế giới về tai nạn lao động đã được triển khai sâu rộng.
Trong lĩnh vực khai thác và chế biến gỗ tai nạn gây chấn thương vẫn chiếm tỉ lệ cao. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng ngành chế biến gỗ có nhiều rủi ro gây TNLĐ. Tình hình nghiên cứu về tai nạn lao động ở Việt Nam Ở Việt Nam, nguy cơ tai nạn đối với người lao động trong làng nghề chế biến gỗ đã được nghiên cứu và cảnh báo từ lâu. Theo nghiên cứu của Nguyễn Phương Thúy (2020), nhận diện các nguy cơ gây TNLĐ, BNN tại các cơ sở sản xuất, chế biến gỗ tại xã Vân Du, nguyên 9 nhân chủ yếu do máy móc, thiết bị thiếu bao che máy an toàn.
Môi trường làm việc chưa đảm bảo vệ sinh, hóa chất dễ gây cháy nổ chưa được bảo quản đúng nơi quy định. Thêm vào đó, NLĐ chưa được huấn luyện và trang bị đầy đủ PTBVCN, ý thức chấp hành nội quy, quy trình sản xuất của người lao động chưa cao [6]. Nghiên cứu của Thế Anh (2020) cho thấy, dù thường xuyên phải sử dụng các loại máy có nguy cơ mất an toàn cao, nhưng cả người lao động và chủ sử dụng lao động ở các làng nghề sản xuất, chế biến gỗ vẫn chủ quan, lơ là. Ở nhiều làng nghề sản xuất, chế biến gỗ, người lao động thường xuyên sử dụng các loại máy móc có nguy cơ mất an toàn cao, làm việc trong môi trường độc hại.
nên rất dễ xảy ra tai nạn đối với người lao động.