CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ LÀNG NGHỀ SƠN MÀI 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC LÀNG NGHỀ VIỆT NAM VÀ LÀNG NGHỀ SƠN MÀI VIỆT NAM 1. Tổng quan về các làng nghề Việt Nam Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Đa số làng nghề đã trải qua lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2008 cho thấy ở nước ta, làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm 60%), ở miền Trung 30% và miền Nam 10%. Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, có thể chia hoạt động làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm ngành chính gồm: thủ công mỹ nghệ; chế biến lương thực, thực phẩm; chăn nuôi, giết mổ; dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da; vật liệu xây dựng, khai thác đá; tái chế phế liệu và các ngành nghề khác. Mỗi ngành chính có nhiều ngành nhỏ. Tính từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế làng nghề phát triển mạnh, nhưng cơ bản vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ; thiết bị thủ công, đơn giản; công nghệ lạc hậu, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, ý thức người dân làng nghề trong việc BVMT sinh thái và bảo vệ sức khoẻ con người còn hạn chế,.
Những yếu kém và hạn chế nói trên đã tạo sức ép không nhỏ đến chất lượng môi trường sống của chính làng nghề và cộng đồng xung quanh. Biểu hiện rõ nhất của vấn đề này là môi trường của không ít làng nghề đang bị suy thoái Các chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm môi trường, tác động trực tiếp tới sức khỏe người dân. Theo báo cáo Môi trường quốc gia năm 2013, ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề có nguồn gốc chủ yếu từ đốt nhiên liệu và sử dụng các nguyên vật liệu, hóa chất trong dây chuyền sản xuất; ô nhiễm nước diễn ra đặc biệt do lượng nước thải của các làng nghề chưa qua xử lý mà được xả thẳng ra hệ thống sông ngòi, kênh rạch. Ngoài ra, chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt để gây tác động xấu tới cảnh 4 quan môi trường, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất.
Theo dự báo, ô nhiễm không khí, nước và đất ở các làng nghề sẽ còn diễn biến phức tạp nếu không kịp thời áp dụng các giải pháp quản lý và kỹ thuật. Ô nhiễm môi trường làng nghề là nguyên nhân gây ra các dịch bệnh cho người dân đang lao động và sinh sống tại chính làng nghề. Tỷ lệ người mắc bệnh tại các làng nghề đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, tập trung vào một số bệnh, như: Các bệnh ngoài da, bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, thần kinh, bệnh phụ khoa và các bệnh về mắt…. Đặc biệt, tỉ lệ người mắc bệnh ung thư tương đối cao ở một số làng nghề.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc và thấp hơn từ 5 đến 10 năm so với làng không làm nghề. Ô nhiễm môi trường làng nghề còn gây ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của chính làng nghề đó, gây ra những tổn thất kinh tế không nhỏ và dẫn đến những xung đột môi trường trong cộng đồng [4]. Trước thực trạng trên, Bảo vệ môi trường (BVMT) làng nghề là vấn đề được quan tâm của cả xã hội. Nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước đã ban hành đề cập đến vấn đề này, như: Nghị quyết 41/NQ-TƯ năm 2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 định hướng đến năm 2020; Luật BVMT năm 2014 và các văn bản, như: Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7-7-2006 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Thông tư số 113/TT-BTC ngày 28-12- 2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn; Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch BVMT; Nghị định 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật BVMT… Một số địa phương có làng nghề cũng đã chú ý đến việc ban hành các văn bản liên quan nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương mình.
Một số làng nghề đã từng bước ứng dụng các công nghệ mới trong xử lý chất thải, giảm 5 thiểu ô nhiễm môi trường. Công tác xã hội hóa BVMT làng nghề của nhà nước đã bắt đầu được chú ý và đã huy động được sự tham gia của cộng đồng. Đặc điểm của làng nghề 1. Một số làng nghề ngoài nước Làng nghề, tồn tại ở nhiều nước trên thế giới: Đức, Thụy Điển, Hy Lạp.
đặc biệt là một số nước Châu Á: Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia, Philipin, Ấn Độ,. Đây là nét văn hóa và bản sắc riêng của từng quốc gia. Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây khi mà nét văn hóa truyền thống của từng quốc gia được đề cập đến nhiều hơn, những công trình nghiên cứu về làng nghề trên thế giới phát triển hơn. Làng nghề lúc này được xem xét dưới mọi khía cạnh: Kinh tế, xã hội học, môi trường, tổ chức sản xuất, quy hoạch phát triển,.
Tất cả các nghiên cứu này đều hướng tới 03 mục đích: Giữ gìn bản sắc văn hóa của từng đơn vị làng nghề; phát triển kinh tế; BVMT làng nghề. Bước vào thế kỷ XXI, hầu hết ở tất cả các quốc gia có “Làng nghề” đều nhận thức rõ ràng hơn về sự suy thoái môi trường và khái niệm PTBV được đưa vào thực hiện. PTBV là “sự phát triển thỏa mãn các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của thế hệ tương lai và các nhu cầu của tương lai”. PTBV trở thành mục tiêu chi phối của tất cả các chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề.
Một số làng nghề trong nước Việt Nam là một nước có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, ở nông thôn lấy “làng” làm đơn vị cơ sở. Làng xã Việt Nam liên kết với nhau một cách chặt chẽ, tạo thành một kết cấu vững chắc trước những biến động của tự nhiên và xã hội. Làng xã chính là nơi diễn ra mọi hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt và văn hoá ở nông thôn: “Làng vốn là một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá cộng đồng” [14]. Các làng nghề phía Bắc được hình thành từ khá sớm, cách đây 4-5 thế kỷ.
Đầu thế kỷ XX, khi nghiên cứu về làng nghề ở Việt Nam, nhà xã hội học Pierre Gourou (Pháp) đã liệt kê có khoảng 108 làng nghề ở vùng châu thổ Sông Hồng, sử dụng 450.000 lao động, khoảng 8% số dân cư ở độ tuổi trưởng thành. 6 Làng nghề tập trung ở nhiều nơi: Ven sông Hồng; Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình.; ở miền Trung và miền Nam số làng nghề không nhiều như miền Bắc. Trong số những làng đã được phát hiện, có mức độ chuyên môn hoá cao, khoảng 40% dân số ở tuổi lao động đã chuyển hẳn sang sản xuất phi nông nghiệp hoặc bán nông nghiệp [4]. Hà Nội là một trong những nơi có số lượng làng nghề lớn nhất trong của vùng đồng bằng sông Hồng, đã đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Có nhiều làng nghề ở Hà Nội sản xuất các đồ thủ công mỹ nghệ chất lượng cao đã thành công khi tiêu thụ sản phẩm, kể cả xuất khẩu ra thị trường quốc tế như Minh Khai, Dương Liễu, Cát Quế, Duyên Thái. Hiện nay, số lượng các làng nghề Việt Nam có xu hướng tăng; chất lượng sản phẩm cũng được chú trọng nên các áp lực tới môi trường từ hoạt động của làng nghề ngày một lớn. Hệ thống làng nghề ở Hà Nội được hình thành và phân bố tập trung hai bên tả hữu ngạn sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tích. Theo điều tra của Tổng cục Thống kê (2012), Hà Nội hiện có 174 xã, 282 làng có nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN), trong đó có 120 làng nghề đã được UBND tỉnh Hà Tây (cũ) quyết định cấp bằng công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề.
Những huyện có nhiều làng nghề là Thường Tín 26 làng, Phú Xuyên 24 làng, Thanh Oai 20 làng, Quốc Oai 13 làng, Hoài Đức 10 làng, Chương Mỹ 9 làng, còn lại các huyện, thị khác có từ 2 đến 7 làng [17]. Tổng số lao động tham gia sản xuất trong các làng nghề khoảng 160.000 người trong đó số lao động chuyên TTCN khoảng 16%, lao động kiêm TTCN khoảng 58%, lao động dịch vụ khoảng 5%, lao động thuần nông khoảng 21%. Nói chung các làng nghề ngoài thành Hà Nội đã đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Có nhiều làng nghề sản xuất các đồ thủ công mỹ nghệ, chế biến lương thực thực phẩm đã có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu.
Mặt khác nhiều làng nghề khác sản xuất các mặt hàng truyền thống và các mặt hàng thông dụng cho tiêu thụ nội địa lại đang gặp nhiều khó khăn. 7 Trong những năm gần đây, có khá nhiều các nghiên cứu về làng nghề, vấn đề môi trường làng nghề đang được nhiều người quan tâm và thực tế thì vấn đề này đang gây nhiều bức xúc và nan giải đối với kinh tế xã hội nói chung như Đề tài "Nghiên cứu thực trạng môi trường sức khỏe ở làng nghề làm bún Phú Đô, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội. Đề xuất một số giải pháp cần thiết", Luận án tiến sĩ Y học của Lê Đức Thọ, năm 2008;. Bên cạnh đó có nhiều nghiên cứu về sức khỏe làng nghề cho thấy tình trạng sức khỏe các làng nghề phía Bắc đều trong tình trạng báo động.
Tỷ lệ người lao động có phương tiện bảo hộ đạt Tiêu chuẩn vệ sinh lao động thấp (22,5%); 100% các hộ sản xuất chế biến lương thực – thực phẩm nước thải không qua xử lý, đổ thẳng ra cống rãnh. Nồng độ các chất khí gây ô nhiễm trong môi trường (H2S, NH3…) có đến 3/5; 1/5 mẫu không đạt yêu cầu.