CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE LANG NGHE VÀ PHÁT TRIEN LANG NGHE Nghé và làng nghề truyền thống đã góp phan tao dựng bản sắc văn hoá cho dân tộc Việt Nam, đóng góp vai trò quan trọng trong đời sông kinh tế - xã hội, nhất là đối với các vùng nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác, làng nghề truyền thống là đặc điểm góp phan vào sự phân công lao động trong nền kinh tế nông nghiệp truyền thống Việt Nam thành ba ngành công - nông — thương nghiệp. Cơ cấu kinh tế nay đã thực sự tạo cho làng xã Việt Nam có thé ồn định lâu dai, vững chắc. Một số khái niệm và cách phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống 1.
Khái niệm về nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống 1. Nghề truyền thống Nghề truyền thống ở nước ta rất phong phú, đa dạng, đã hình thành và tồn tại hàng trăm năm, tạo ra nhiều sản phẩm nồi tiếng trong nước và thế giới như gốm Bát Tràng, nghề chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình), nghề dét tơ lụa Hà Đông. Nghề truyền thống là những nghề thủ công được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài, tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm, được sản xuất tập trung, thu hút được nhiều lao động tham gia sản xuất và dần hình thành các làng nghề, phố nghề, xã nghề. Đặc trưng cơ ban gắn với kỹ thuật và công nghệ truyền thống, sản phẩm có tính đơn chiếc, tính thâm mỹ cao và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Điều đặc biệt là linh hồn của nghề, của làng nghề nằm trong yếu tố con người, đó là những nghệ nhân và đội ngũ lao động lành nghề. Khi nền đại công nghiệp phát triển thì việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào trong sản xuất đã dần thay thế sức lao động trong một số công đoạn nhất định, điều đó phá vỡ tính truyền thống cố hữu trong sản xuất nghé truyền thống, do đó quan điểm ban đầu cũng có những thay đổi nhất định. Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã khiến cho việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới với nhiều loại nguyên liệu mới. Do vậy khái niệm nghề truyên thong đã được nghiên cứu và mở rộng hơn và có thê hiéu như sau: “Nghề 15 truyền thong bao gồm những nghệ tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tôn tại đến ngày nay, kế cả những nghề đã được cải tiễn hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại dé hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc ” * Phân loại nghề truyền thống + Phân biệt theo trình độ kỹ thuật - Loại nghề có kỹ thuật giản đơn: đan lát, chế biến lương thực, thực phẩm, làm gạch, nung vôi.
Sản phẩm của những nghề này có tính chất thông dụng, rất phù hợp với một nền kinh tế tự cấp, tự túc. - Loại nghề có kỹ thuật phức tạp: kim hoàn, đúc đồng, làm gốm, khảm gỗ, dệt lụa. Các nghề này không chỉ có kỹ thuật, công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi ở người thợ sự sang tao va khéo léo. + Phân loại theo tính chất kinh tế: - Loại nghề phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, sản phẩm ít mang tính chất hàng hóa, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ như sản xuất nông cụ như cày, bừa, liềm, hái.
- Loại nghề mà hoạt động độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp, sản phẩm của nó thê hiện một trình độ nhất định của sự tách biệt thủ công nghiệp với nông nghiệp, của tài năng sáng tạo và khéo léo của người thợ, tiêu biểu là các sản phẩm nghề dệt, gốm, kim hoàn. Làng nghề Cho đến nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm làng nghề, theo giáo sư Tran Quốc Vượng thì: Làng nghề (như làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lang, Hương Canh. làng giấy vùng Bưởi, Dương O. làng rèn sắt Canh Diễn, Phù Duc, Đa Hội .) là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiêu nông và chăn nuôi nhỏ song đã nồi trội một nghề cô truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, ông phó cả.
cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định sống chủ yếu bang nghé đó 16 và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, trở thành sản pham hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu “dân biết mặt, nước biết tên, tên làng đã đi vào lịch sử, vào ca dao tục ngữ” trở thành văn hóa dân gian. Làng nghề là một phương diện mà rất nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và đã có nhiều quan điểm về làng nghề được xây dựng trên những tiêu chí khác nhau, tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa chính thức, làm quy chuẩn về làng nghề. Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát triển do nhu cầu phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc.
Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng mà ở đó số người chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm ty lệ khá lớn trong tổng dân số của làng. Tiêu chí phân định cụ thể như sau: Số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề thủ công từ 40 — 50%; Thu nhập từ nghề thủ công chiếm 50% tổng thu nhập của các hộ; giá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% tổng giá tri sản lượng của địa phương. Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ là một thước đo định lượng, bởi vì đối với mỗi làng nghề khác nhau thì tỷ lệ nói trên là cũng khác nhau. Điều đó thể hiện rõ ở quy mô sản xuất, tính chất của sản phẩm và số lượng người tham gia giữa làng nghề phát triển và làng nghề chậm phát triển.
Trong thời kỳ CNH — HĐH hiện nay, việc phát triển và ứng dụng khoa học — công nghệ vào trong sản xuất đã pha vỡ tính thủ công truyền thống nhất thé trong sản xuất, thay vào đó là hình thức sản xuất ban cơ khí phổ biến. Chính vi vậy khái niệm về làng nghề được mở rộng hơn, không còn bó hẹp ở những làng chỉ có những người chuyên làm các nghề thủ công nghiệp. Nó được nhìn nhận dưới hai giác độ: 17 Những làng nghề đã áp dụng công nghệ cơ khí, bán cơ khí vào trong sản xuất và những làng nghề phát triển sản xuất ở mức độ cao đã kéo theo nhiều nghề dịch vụ ăn theo nhằm phục vụ nó như nghề cung ứng vật tư. Theo tác giả Bùi Văn Vượng thì “Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền thủ công, ở day không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công.
Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình .” Làng nghề là những làng sống bằng hoặc chủ yếu băng nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam. Vậy khái niệm làng nghé có thé bao gồm những nội dung sau: “Lang nghề là một thiết chế kinh tế-xã hội ở nông thôn được cấu thành bởi hai yếu tổ làng và nghề, ton tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiễu hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa `. Làng nghề truyền thống Trong làng nghé truyền thong thường có đại bộ phận dân số làm nghề cô truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối, nghĩa là việc dạy nghề được thực hiện bằng phương pháp truyền nghề. Song sự truyền nghề này luôn có sự tiếp thu những cải tiến, sáng tạo làm cho sản phâm của mình có những nét độc đáo riêng so với sản phẩm của người khác, làng khác.
Qua khái niệm nghề truyền thống và làng nghề được trình bày ở trên thì làng nghề truyền thống trước hết là làng nghề được tổn tại và phát triển lâu đời trong lich sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thong lâu đời, giữa ho có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chê xã hội và gia tộc. Phân loại làng nghề 1. Đối với làng nghề Làng nghề được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, do đó có nhiều hình thức làng nghề khác nhau.
Tuy nhiên, các cách phân chia chỉ mang tính tương đối vì an hiện trong ngành nghề này, làng nghề này lại thấy sự liên kết với các ngành nghề, làng nghề khác. Chúng tôi xin đề xuất một số cách phân loại sau: Phân loại theo số lượng nghề, gồm có: - Làng một nghề: là những làng ngoài nghề nông ra chỉ còn một nghề thủ công duy nhất chiếm ưu thé tuyệt đối. - Làng nhiễu nghề: là những làng ngoài nghề nông ra còn có một số nghề thủ công nghiệp. Phân loại theo thời gian, gồm có: - Làng nghệ truyén thống: là những làng xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm.
- Làng nghề mới: là những làng nghề phát triển do sự lan tỏa của các làng nghề truyền thống trong những năm gan đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ chuyền sang nên kinh tế thị trường.