Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm làng nghề Khái niệm làng nghề được hiểu theo nhiều cách thức khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm về làng nghề. Dưới đây là một số quan niệm.
Quan niệm thứ nhất: Theo Trần Minh Yến (2003) thì “Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố ngành và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế văn hóa và xã hội”. [22 Quan niệm thứ hai: Dựa theo đề tài “Khảo sát một số làng nghề truyền thống – chính sách và giải pháp” của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, 1996 thì “Làng nghề là một cộng đồng dân cư, một cộng đồng sản xuất nghề TTCN và nông nghiệp ở nông thôn”.[21 Quan niệm thứ 3: Một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm theo tiêu chí cụ thể về lao động và thu nhập. Theo đó “làng nghề là những làng đã từng có 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm”.[7 Quan niệm thứ 4: Theo Đặng Kim Chi (2005), có thể hiểu làng nghề “ là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông”.[4] Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề. Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí: 5 - Giá trị sản xuất và thu nhập từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng.
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động. - Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người trong làng tham gia. Như vậy, làng nghề là làng trong đó có phần lớn dân cư sống bằng các nghề phi nông nghiệp và thường cùng một nghề chủ yếu. Thu nhập của người dân trong làng phần lớn từ tiểu thủ công nghiệp.
Đây trở thành một lĩnh vực chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu nhập của dân cư nông thôn. Đặc điểm chung của làng nghề Ở mỗi làng nghề tuy bao giờ cũng có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có chung một số đặc điểm sau: - Lực lượng lao động trong làng nghề đa số là người dân sống trong làng. Các ngành nghề phi nông nghiệp trong làng sẽ tạo ra sản phẩm giúp cho người dân tăng thu nhập trong lúc nông nhàn. - Hộ gia đình là đơn vị cơ bản của sản xuất với nguồn nhân lực từ thành viên trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có.
Nhờ vào nhân lực gia đình đã tạo cho các hộ gia đình khả năng thu nhập không phân biệt lứa tuổi và giới tính vì nó đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên trong gia đình. Do đó, nó có thể huy động mọi người trong gia đình tham gia tích cực vào việc tăng sản phẩm, sản xuất của gia đình. - Cơ sở sản xuất dịch vụ tại làng xã là nơi có nhiều hộ gia đình cùng tham gia. Điều này tạo nên tính chất riêng biệt của làng nghề, dẫn đến xu thế độc quyền những nghề nghiệp, sản phẩm.
- Phần lớn kỹ thuật- công nghệ của làng nghề còn lạc hậu, chủ yếu vẫn sử dụng các thiết bị thủ công, bán cơ khí hoặc đã được cải tiến một phần, đa 6 số mua lại từ các cơ sở công nghiệp quốc doanh, các thiết bị này đã cũ, không đồng bộ, không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật. Công nghệ sản xuất đơn giản (đôi khi còn lạc hậu), cần nhiều sức lao động. Phân loại và phân bố làng nghề *Phân loại làng nghề Làng nghề với những hoạt động phát triển đã tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực đến đời sống kinh tế và môi trường nông thôn Việt Nam với đặc thù hết sức đa dạng. Cần phải nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau mới có thể hiểu rõ được bản chất cũng như sự vận động của loại hình kinh tế này và các tác động của nó gây ra đối với môi trường.
Để giúp cho công tác quản lý hoạt động sản xuất cũng như quản lý, bảo vệ môi trường và làm cơ sở thực tiễn để thấy được bức tranh tổng thể về làng nghề Việt Nam, có thể phân loại làng nghề theo một số dạng như sau: (1). Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới: dựa trên đặc thù văn hóa, mức độ bảo tồn các làng nghề đặc trưng cho các vùng văn hóa lãnh thổ khác nhau. Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm: nhằm xác định nguồn và khả năng đáp ứng nguyên liệu cho hoạt động sản xuất cũng như phần nào thấy được xu thế và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của xã hội. Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ: nhằm xác định trình độ công nghệ sản xuất và quản lý sản xuất của làng nghề qua đó có thể xem xét tiềm năng phát triển đổi mới công nghệ sản xuất đáp ứng cho các nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm: nhằm phục vụ mục tiêu đánh giá đặc thù, quy mô nguồn thải từ hoạt động sản xuất của làng nghề. Theo mức độ sử dụng nguyên, nhiên liệu: nhằm xem xét, đánh giá mức độ sử dụng tài nguyên tài các làng nghề, tiến tới có được giải pháp quản lý và kinh tế trong sản xuất nhằm giảm lượng tài nguyên sử dụng cũng như hạn chế tác động đến môi trường. Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển: nhằm xem sét tới các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng nhất đối với sự phát triển của làng nghề. Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp.
Trên cơ sở tiế cận vấn đề môi trường làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả. Vì thực tế cho thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất khác nhau, nguồn và dạng chất thải khác nhau, và vì vậy có những tác động khác nhau đến môi trường. Làng nghề nông thôn Việt Nam hiện được phân loại theo 6 nhóm ngành nghề sản xuất chính: thủ công mỹ nghệ (gốm, sứ, thủy tinh mỹ nghệ, chạm khắc, sơn mài, đồ gỗ mỹ nghệ), chạm mạ vàng, bạc, thêu, ren; chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ; dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da; vật liệu xây dựng và khai thác đá; tái chế phế liệu; nghề khác (sản xuất nông cụ như cày, bừa, đóng thuyền, làm quạt giấy.) Thủ công mỹ nghệ Chế biến lương thực, thực 15% phẩm, chăn nuôi, giết mổ 4% 5% 39% Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da Vật liệu xây dựng và khai thác đá 17% Tái chế phế liệu 20% Nghề khác Hình 1.1: Biểu đồ phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất (Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2014 - Môi trường nông thôn (tr.20/2014))[2] 8 * Phân bố làng nghề Cùng với sự ra đời của các CCN, nhiều làng nghề được khôi phục và phát triển đã thu hút được nhiều nguồn vốn trong dân cư, tạo được việc làm tại chỗ cho hàng chục vạn lao động. Theo số liệu thống kê, đến hết năm 2014, số làng nghề và làng có nghề nước ta là 5.096, trong đó số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1.
Các làng nghề thu hút khoảng 10 triệu lao động [2]. Theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê (2012), số xã có làng nghề tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSH (50%), tại các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Thái Bình, Nam Định… Tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và DHMT chiếm khoảng 25% số xã có làng nghề của cả nước. Số xã có làng nghề còn lại là ở ĐBCL và các vùng khác chiếm tỷ lệ nhỏ. 13% 12% 25% 50% ĐBSCL ĐBSH Bắc Trung Bộ và DHMT Các vùng khác Hình 1.2: Tỷ lệ xã có làng nghề phân theo vùng (Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2014- Môi trường nông thôn (tr.
Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế-xã hội * Làng nghề với sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợ phát triển các làng nghề. Khả năng tiếp cận thông tin, điện, nước sạch, giao 9 thông và các yếu tố khác về cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt sẽ góp phần mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo ở nước ta thông qua việc phát triển các ngành nghề tại các làng nghề. Ngược lại, sự phát triển kinh tế của các làng nghề cũng góp phần đổi mới bộ mặt nông thôn, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại đây. * Làng nghề và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Làng nghề đóng vai trò rất quan trọng, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động ở khu vực nông thôn.
Bên cạnh, việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động ở khu vực nông thôn còn tạo thêm việc làm cho lao động phụ nữ như người già, trẻ em, người khuyết tật. * Làng nghề truyền thống và phát triển du lịch Nhiều làng nghề hiện nay có xu hướng phát triển theo hướng phục vụ các dịch vụ du lịch. Đây là hướng đi mới nhưng phù hợp với thời đại hiện nay và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời có thể giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường, nâng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.