CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT TINH BỘT DONG Ở VIỆT NAM 1. Vai trò và sự phát triển của ngành sản xuất tinh bột dong tại Việt Nam Dong riềng là một trong những cây lương thực quan trọng tại Việt Nam. Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong lai tạo và nhân giống dong. Điều đó có được là do đã tuyển chọn và nhân rộng giống dong riềng lai có năng suất và hàm lượng tinh bột cao.
Năng suất và sản lượng dong riềng của nhiều tỉnh đã tăng lên gấp đôi do trồng các giống mới và áp dụng kỹ thuật canh tác thích hợp, bền vững. Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Trung Quốc, Đài Loan. Cùng với diện tích được mở rộng, sản lượng cũng như năng suất tinh bột dong được sản xuất cũng tăng lên theo thời gian.1: Diện tích trồng dong tại các khu vực của Việt Nam 2009 - 2014 Đơn vị: 1.000 ha Khu vực 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Đồng bằng sông hồng 9,9 8,5 8,4 8,8 7,9 7,9 Trung du và miền núi phía Bắc 83,8 133,0 140,3 151,2 168,8 170,0 Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung 82,1 89,4 93,7 96,5 110,0 110,0 Tây Nguyên 38,0 89,4 125,9 129,9 150,1 150,0 Đông Nam Bộ 16,1 98,8 100,9 102,9 113,5 115,0 Đồng bằng sông Cửu Long 7,7 6,4 6,0 6,2 7,4 7,5 Cả nước 237,6 425,5 475,2 495,5 557,7 560,4 [4] Diện tích trồng dong ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc chiếm cao nhất trên cả nước. Tổng diện tích trồng dong tại 4 vùng: Trung du và miền núi phía Bắc, vùng Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên chiếm khoảng 80% diện tích trồng dong cả nước.2: Sản lượng dong trong các khu vực của Việt Nam 2009 - 2014 Đơn vị: 1.000 tấn Khu vực 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Đồng bằng sông hồng 87,9 92,4 93,7 102,9 102,1 105,5 Trung du miền núi phía Bắc 645,9 1.810 Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung 678,5 986,8 1.400 Đông Nam Bộ 154,3 2.700 Đồng bằng sông Cửu Long 68,2 64,0 64,2 72,9 106,8 110,0 Cả nước 1.455 5 [4] Với khoảng 2 ÷ 4 triệu tấn bột dong xuất khẩu kể từ năm 2009 - 2014, Việt nam đang dần trở thành là nước xuất khẩu lớn thứ hai trên Thế Giới chỉ sau Thái Lan.
Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu chính mặt hàng tinh bột dong của Việt Nam, chiếm hơn 90% kim ngạch. Tiếp theo là Hàn Quốc chiếm 5,5%, Đài Loan 2%. Ngành công nghiệp chế biến dong có tính thời vụ, thường bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 4 năm sau. Các cơ sở sản xuất tinh bột dong quy mô công nghiệp ở nước ta chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Nam, Tây Nguyên và một số tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Hoà Bình.3: Công suất của một số nhà máy sản xuất tinh bột dong ở Việt Nam Công suất (tấn TT Tên nhà máy SP/ngày) 1 Nhà máy An Giang 60 2 Nhà máy Quảng Ngãi 50 3 Nhà máy Quảng Nam 50 4 Công ty vật tư tổng hợp Thanh Hoá 60 5 Công ty chế biến lâm nông sản Yên Bái 50 6 Nhà máy chế biến tinh bột Yên Bình 160 6 Công suất (tấn TT Tên nhà máy SP/ngày) 7 Nhà máy chế biến tinh bột Lào Cai 80 8 Nhà máy tinh bột Phú Thọ 50 9 Nhà máy Toàn Năng - Tây Ninh 70 10 Nhà máy sản xuất tinh bột Đắk Lắk 80 11 Công ty liên doanh TAPIOCA Việt Nam 165 [4] 1.
Về quy mô sản xuất tinh bột dong Việt Nam hiện tồn tại 3 loại quy mô sản xuất tinh bột dong điển hình sau: 1.