Luận án tiến sĩ: Hệ thống thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932-1945 - Biện Thị Quỳnh Nga

Khám phá luận án tiến sĩ chuyên sâu về hệ thống thể loại truyền thống trong Thơ Mới (1932-1945). Phân tích cấu trúc, sự biến đổi và ảnh hưởng.

Trường đại học

Đại học Công đoàn

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2007

171
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống thể loại truyền thống trong Thơ mới 1932 1945

Thơ mới 1932-1945 đánh dấu bước đột khởi chưa từng có trong lịch sử thơ ca dân tộc. Phong trào này thực hiện cuộc cách tân sâu sắc, hiện đại hóa thơ Việt. Tuy nhiên, bên cạnh các thể thơ mới du nhập, hệ thống thể loại truyền thống vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ. Các thể thơ như lục bát, song thất lục bát, hát nói, đường luật chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số sáng tác thời kỳ này. Nghiên cứu hệ thống thể loại truyền thống trong Thơ mới giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa cái cũ và cái mới. Đây là vấn đề then chốt để hiểu đầy đủ diện mạo Thơ mới. Luận án tiến sĩ của Biện Thị Quỳnh Nga đã hệ thống hóa toàn diện vấn đề này. Công trình nghiên cứu vị thế, vai trò, chức năng, nội dung và thi pháp của các thể truyền thống. Phương pháp tiếp cận liên ngành được áp dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các thể truyền thống không hề lỗi thời mà có khả năng thích ứng cao. Chúng vừa giữ gìn bản sắc dân tộc vừa hòa nhập với tinh thần hiện đại của thời đại.

1.1. Bối cảnh lịch sử ra đời Thơ mới 1932 1945

Thơ mới ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây. Phong trào được khởi xướng từ năm 1932 với sự góp mặt của nhiều nhà thơ tiên phong. Thơ mới tiếp thu cái tốt đẹp trong thơ truyền thống đồng thời học tập sáng tạo thơ ca nước ngoài, đặc biệt là thơ Pháp. Quan niệm nghệ thuật mới, quan niệm mới về con người, nhãn quan ngôn ngữ mới đã tạo nên diện mạo hoàn toàn khác biệt. Thơ mới thuộc loại hình thơ hiện đại, mở ra thời đại mới trong thi ca Việt Nam.

1.2. Khái niệm thể thơ truyền thống trong nghiên cứu

Thể thơ truyền thống là khái niệm chỉ các hình thức thơ đã được định hình qua nhiều thế hệ sáng tác. Trong hệ thống thơ Việt Nam, thể truyền thống gồm hai nhóm chính. Nhóm thể thơ du nhập từ văn học Trung Hoa như đường luật, cổ phong. Nhóm thể thơ thuần Việt như lục bát, song thất lục bát, hát nói. Mỗi thể thơ có quy tắc riêng về vần, luật, cấu trúc. Việc xác định ranh giới giữa hai nhóm này là cơ sở quan trọng cho phân loại và đánh giá.

II. Phân tích vị thế và vai trò thể thơ truyền thống trong Thơ mới

Vị thế của các thể truyền thống trong Thơ mới là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Thực tế sáng tác cho thấy thể truyền thống chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng sản phẩm thơ 1932-1945. Lục bát và đường luật là hai thể được sử dụng nhiều nhất. Tuy nhiên, vị thế của chúng có sự khác biệt rõ rệt giữa các giai đoạn và từng nhà thơ. Giai đoạn đầu, thể truyền thống còn chiếm ưu thế. Giai đoạn sau, thể mới du nhập dần lấn át. Sự cạnh tranh giữa các thể thơ phản ánh quá trình chuyển đổi từ loại hình trung đại sang hiện đại. Các thể truyền thống có khả năng lôi cuốn độc giả riêng. Chúng đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của bộ phận công chúng yêu thích truyền thống. Đồng thời, các thể này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều nhà thơ lớn như Nguyễn Bính, Tế Hanh đã thành công với thể truyền thống trong bối cảnh Thơ mới.

2.1. Tỷ lệ và dung lượng tồn tại của thể truyền thống

Thống kê cho thấy thể truyền thống chiếm khoảng ba mươi phần trăm tổng số bài thơ trong giai đoạn 1932-1945. Lục bát là thể có số lượng sáng tác lớn nhất trong nhóm truyền thống. Đường luật đứng thứ hai, đặc biệt phổ biến ở các nhà thơ có nền tảng Hán học. Song thất lục bát và hát nói có tỷ lệ khiêm tốn hơn nhưng vẫn được khai thác. Dung lượng bài thơ truyền thống thường ngắn hơn thể mới. Sự phân bố không đồng đều này phản ánh xu hướng tiếp nhận đa dạng của công chúng.

2.2. Khả năng thu hút độc giả của thể thơ truyền thống

Thể thơ truyền thống có lợi thế lớn trong việc tiếp cận đông đảo công chúng. Nhịp điệu quen thuộc của lục bát dễ đi vào lòng người. Vần luật chặt chẽ của đường luật tạo cảm giác thẩm mỹ trang trọng. Nhiều bài thơ thể truyền thống được phổ nhạc và trở thành ca khúc nổi tiếng. Nguyễn Bính là minh chứng thành công nhất khi dùng lục bát để chinh phục bạn đọc. Tuy nhiên, một số nhà thơ cách tân cho rằng thể truyền thống hạn chế khả năng biểu đạt nội dung mới. Sự cân bằng giữa giữ gìn và đổi mới là thách thức lớn.

III. Phương pháp nghiên cứu chức năng và thi pháp thể loại truyền thống

Nghiên cứu chức năng và thi pháp của thể truyền thống trong Thơ mới đòi hỏi phương pháp tiếp cận đa chiều. Chức năng của thể thơ không chỉ dừng lại ở trữ tình mà còn bao gồm tự sự, ngâm tụng, biểu cảm. Mỗi thể thơ có thế mạnh riêng trong việc thể hiện nội dung xác định. Truyện thơ mạnh về tự sự, ngâm khúc thiên về tự tình, hát nói phô diễn tâm trạng. Thi pháp thể thơ truyền thống trong Thơ mới chịu thử thách lớn từ yêu cầu đổi mới. Các nhà thơ phải dung hòa giữa quy tắc truyền thống và tinh thần hiện đại. Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng rộng rãi. Việc phân tích thi pháp từ góc độ thể loại giúp nhận diện rõ nét đặc trưng sáng tạo. Kết hợp phân tích định tính và định lượng, nghiên cứu chỉ ra những thành công và bất cập. Phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa học và xã hội học bổ trợ hiệu quả cho nghiên cứu thể loại học.

3.1. Chức năng của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới

Trữ tình là đặc tính cố hữu của thơ ca, trở thành yếu tố xác định chủng loại. Song các thể thơ không chỉ có chức năng duy nhất là trữ tình. Mỗi thể thơ là chỉnh thể độc lập có quyền phô diễn thế mạnh ở loại chức năng nhất định. Truyện thơ rất mạnh về tự sự. Ngâm khúc thiên về tự tình, giãi bày cảm xúc. Hát nói phô diễn tình cảm, tâm trạng một cách tự nhiên. Sự ăn nhập giữa nội dung và cách thức biểu đạt tạo nên tầm vóc tác phẩm.

3.2. Thi pháp thể thơ truyền thống trước thử thách hiện đại hóa

Thi pháp thể thơ truyền thống trong Thơ mới đối mặt với nhiều thách thức. Yêu cầu biểu đạt nội dung mới đòi hỏi cách thức thể hiện mới. Các nhà thơ phải tìm kiếm sự hài hòa giữa quy tắc cũ và tinh thần mới. Lục bát được cách tân bằng cách mở rộng đề tài, đa dạng hóa nhịp điệu. Đường luật được biến đổi linh hoạt về vần luật. Song thất lục bát và hát nói được khai thác ở góc độ biểu cảm hiện đại. Những thử nghiệm này cho thấy khả năng thích ứng đáng kể của thể truyền thống.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu thể loại truyền thống trong Thơ mới

Nghiên cứu hệ thống thể loại truyền thống trong Thơ mới 1932-1945 mang lại nhiều kết quả quan trọng. Các thể truyền thống không hề mất đi vị thế trong bối cảnh hiện đại hóa. Chúng thích ứng linh hoạt, vừa giữ gìn bản sắc vừa đáp ứng yêu cầu mới. Tính chất mở, cá nhân và tự do của Thơ mới tạo không gian cho sự sáng tạo trong khuôn khổ truyền thống. Kết luận này có giá trị lý luận và thực tiễn lớn. Về lý luận, nghiên cứu bổ sung hệ thống quan niệm về vai trò thể loại trong quá trình chuyển đổi văn học. Về thực tiễn, kết quả gợi mở hướng sáng tác và giảng dạy thơ ca truyền thống. Ứng dụng của nghiên cứu mở rộng sang nhiều lĩnh vực. Giáo dục văn học cần chú trọng dạy thể thơ truyền thống một cách có hệ thống. Sáng tác thơ đương đại có thể kế thừa tinh hoa thể loại truyền thống. Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cũng cần đến hiểu biết sâu sắc về thể thơ.

4.1. Đóng góp lý luận về thể loại học thơ Việt Nam

Luận án đóng góp hệ thống quan niệm mới về vị thế thể loại truyền thống trong lịch sử thơ ca. Nghiên cứu chứng minh thể truyền thống không phải tàn dư quá khứ mà là thành phần hữu cơ. Phương pháp phân loại hai nhóm du nhập và thuần Việt được hệ thống hóa chặt chẽ. Khái niệm về khả năng thích ứng của thể thơ được làm rõ. Đóng góp lớn nhất là chỉ ra nguyên tắc nền tảng cho sự tồn tại bền vững của thể truyền thống. Kết quả này đặt nền móng cho các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.

4.2. Ứng dụng trong giáo dục và sáng tác thơ ca hiện đại

Kết quả nghiên cứu có nhiều ứng dụng thiết thực trong giáo dục văn học. Chương trình giảng dạy cần cân đối giữa thơ mới và thơ truyền thống. Sinh viên cần hiểu rõ đặc trưng thi pháp từng thể thơ để cảm thụ sâu sắc. Trong sáng tác, nhà thơ đương đại có thể khai thác thế mạnh của thể truyền thống. Lục bát và hát nói vẫn là hình thức biểu đạt hiệu quả cho nhiều đề tài hiện đại. Việc kết hợp truyền thống và hiện đại tạo nên bản sắc riêng cho thơ Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ ngữ văn hệ thống thể loại truyền thống trong thơ mới 1932 2945

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thơ mới 1932 - 1945 từ phương diện thể thơ trên lịch trình nghiên cứu suốt hơn tám thập kỷ qua Vấn đề nghiên cứu thể loại nói chung và các thể thơ nói riêng trong phong trào Thơ mới đã đƣợc đề cập từ rất sớm. Ngay từ khi mới ra đời, Thơ mới trƣớc hết đƣợc nhìn nhận ở góc độ thể loại, đƣợc hiểu là thơ “tự do” (theo nghĩa là mộ thơ” hay “thể thơ”) nhằm phân biệt, đối lập với những bài thơ làm theo hình thức thơ luật Đƣờng một cách gò bó, khuôn sáo, xuất hiện không ít trên báo chí công khai thời bấy giờ. Phan Khôi trong bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ (1932) xác định đó là lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm tả ra bằng những câu có vần mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết” [85, 53].

Đƣợc Phan Khôi khơi mào, các tác phẩm Thơ mới liên tục đƣợc in ra, các báo ở hai miền đã cho đăng các bài “bút chiến” tranh luận Thơ cũ - Thơ mới, phê bình Thơ mới. Các bài viết tham gia tranh luận đã đƣợc tập hợp khá đầy đủ trong cuốn Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX [131]. Nhìn chung, cái đích lớn nhất mà cuộc tranh luận hƣớng đến là nhằm đi tìm và xác lập diện mạo lối “thơ mới”. Lúc đầu, Thơ mới đƣợc xác định bằng cách đối sánh với các thể thơ cũ để tìm ra khuôn vần, nhạc điệu và hình thức của các thể thơ mới.

Khi Thơ mới đang trên hành trình vận động của nó (vài năm đầu của thập niên 40 - thế kỷ XX), ngoài các ý kiến ngắn về Thơ mới tiếp tục xuất hiệ ổi bật là Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dƣơng Quảng Hàm [59] và Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh - Hoài Chân [175]. Dƣơng Quảng Hàm bƣớc đầu khảo cứu âm luật và thể cách của Thơ mới. Đặc biệt, Hoài Thanh - Hoài Chân với Thi nhân Việt Nam, nhất là bài viết Một thời đại trong thi ca, đã tỏ ra rất nhạy cảm, xác đáng trong tinh tuyển, tổng duyệt, tổng luận thế nào là Thơ mới, trong đó có vấn đề các thể thơ. Vấn đề các thể thơ của Thơ mới, tuy chƣa đƣợc Hoài Thanh - Hoài Chân đi sâu khảo sát (hai ông tập trung nhiều hơn về cái tôi của Thơ mới), nhƣng những ý kiến của các ông rất có ý nghĩa.

Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Thơ mới cũng nhƣ việc nghiên cứu Thơ mới trải nhiều thăng trầm. Ở miền Bắc, do thực tiễn, nhiệm vụ cách mạng đặt ra cho văn nghệ nói chung và cái nhìn về văn học lãng mạn chƣa đƣợc “cởi trói”, việc nghiên cứu Thơ mới còn ít, sự đánh giá Thơ mới chƣa thỏa đáng, nhất là về nội dung 5 tƣ tƣởng. Thành tựu nghiên cứu về Thơ mới trong thời gian này, đáng chú ý nhất là công trình Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức [124]. Trong công trình này, ở chƣơng V: Các thể thơ ca trong phong trào Thơ mới, Hà Minh Đức đã thống kê, khảo sát, phân tích khá thuyết phục các thể đƣợc dùng phổ biến của phong trào Thơ mới, nhất là trên phƣơng diện thi pháp thể thơ.

Ngoài ra, các công trình Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại của Hà Minh Đức [47], Phong trào Thơ mới của Phan Cự Đệ [33] cũng khẳng định những đóng góp to lớn về nghệ thuật của Thơ mới, trong đó ít nhiều có đề cập đến các thể thơ. Trong giai đoạn này, ở miền Nam, Thơ mới đƣợc đánh giá cao, đƣợc đƣa vào giảng dạy trong nhà trƣờng. Các công trình: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (tập III, 1961) của Phạm Thế Ngũ [119], Khảo luận luật thơ của Lam Giang [54], Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và Thơ mới của Bùi Đức Tịnh [165],… có quan tâm Thơ mới trên phƣơng diện thể thơ. Tuy nhiên, ở các công trình trên, các thể thơ của Thơ mới mới chỉ đƣợc giới thiệu một cách khái quát, các tác giả chủ yếu nghiêng về miêu tả những biểu hiện “bề mặt”, chứ chƣa đi sâu tìm hiểu tính đặ ức năng, nội dung và thi pháp các thể của Thơ mới.

Từ 1975, sau ngày đất nƣớc thống nhất, vấn đề đánh giá Thơ mới vẫn trƣợt theo quán tính phủ định. Từ 1986 (kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI) đến nay, trong bối cảnh thời kỳ đổi mới, hội nhập (với thế giới), Thơ mới và nhiều hiện tƣợng văn học tiền chiến đƣợc nhìn nhận lại, đƣợc quan tâm, đánh giá một cách bình tĩnh, khách quan và khoa học hơn. Xu hƣớng nghiên cứu văn học theo nhiều phƣơng pháp mới, trong đó có phƣơng pháp loại hình, ngày càng chứng tỏ tính ƣu việt của nó. Trong xu thế đó, loại hình Thơ mới 1932 - 1945, nhất là từ góc độ thể thơ cũng đƣợc quan tâm nhiều và đƣợc đánh giá cao.

Phổ biến nhất là các bài viết đăng trên các báo, tạp chí (từ trung ƣơng đến địa phƣơng), bsite : Tiếp nhận ảnh hưởng của thơ truyền thống (Xuân Diệu) [31], Cái mới của Thơ mới từ xung khắc đến hòa giải với truyền thống (Trần Đình Hƣợu) [75], Cuộc cải cách của phong trào Thơ mới và tiến trình thơ tiếng Việt (Lại Nguyên Ân) [7], Thơ mới và sự đổi mới thi pháp thơ trữ tình tiếng Việt (Trần Đình Sử) [154], Loại hình câu thơ của Thơ mới (Lê Tiến Dũng) [21], Địa vị lịch sử của phong trào Thơ mới (Trần Đình Sử) [158], Vấn đề mới cũ trong thơ Việt Nam trước 1945 nhìn từ phong trào Thơ mới (Lƣu Khánh Thơ) [181], Thơ mới thành công và thất bại của thành công (Đỗ Lai Thúy) [188], Thể Thơ mới nhìn từ sự vận động nội tại của thể 6 loại văn học (Hoàng Thị Huế) [71], Hình thức Thơ mới với các thể thơ đặc trưng đột phá từ thơ cổ điển (Nguyễn Huệ Chi) [13],… Gần đây xuất hiện một số bài viết theo hƣớng nghiên cứu chuyên sâu những thể thơ riêng lẻ của Thơ mới nhƣ: Bằng trắc thơ bảy chữ Xuân Diệu (Lý Toàn Thắng) [163], Thể tám tiếng trong thơ Việt Nam [24] và Thơ tự do, khuynh hướng chủ yếu trong thơ Việt Nam đương đại (Lê Tiến Dũng) [23], Mối quan hệ giữa hát nói và Thơ mới (Nguyễn Đức Mậu) [108],… Vấn đề các thể thơ của Thơ mới cũng đƣợc đề cập trong các công trình là chuyên luận, chuyên khảo hoặc giáo trình dùng trong các trƣờng đại học. Tiêu biểu là các công trình: Ngôn ngữ thơ (Nguyễn Phan Cảnh) [11], Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 (Phan Cự Đệ) [34], Thơ mới - bình minh thơ Việt Nam hiện đại (Nguyễn Quốc Túy) [167], Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca (Bùi Công Hùng) [72], Con mắt thơ (Đỗ Lai Thúy) [186], Thi pháp hiện đại (Đỗ Đức Hiểu) [66], Tìm hiểu thơ (Mã Giang Lân) [89], Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (Giáo trình lịch sử văn học ễn Đăng Mạnh) [106], Cấu trúc thơ (Thụy Khuê) [86], Thơ, v. (Nguyễn Hƣng Quốc) [145],… Hầu hết các bài viết và công trình, hoặc mớ , hoặc mới chỉ nghiên cứu một phƣơng diện nào đó của các thể thơ, hoặc tìm hiểu các thể thơ chƣa phải vì mụ i mà vì mục đích khác theo tƣ tƣởng của ngƣời nghiên cứu. Ngoài ra, còn có dạng các công trình đi vào vấn đề thể thơ thuộc phong cách riêng của các nhà thơ, nhƣ: Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên của Hồ Thế Hà [55], Ba đỉnh cao Thơ mới Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử của Chu Văn Sơn [150], Thơ tình Xuân Diệu (Lƣu Khánh Thơ) [179], Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng tám 1945 của Lý Hoài Thu [183], ệu, thời kỳ trước 1945 (Lê Quang Hƣng) [74], Thế Lữ, nghệ sĩ hai lần tiên phong của Phan Trọng Thƣởng [190],.

Dƣới dạng là các khóa luận tốt nghiệp đại học, các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, vấn đề thể thơ của Thơ mới ngày càng đƣợc khai thác nhiều. Nổi bật có: Kết cấu thơ trữ tình (Phan Huy Dũng) [26], Thơ tình trong Thơ mới (Lê Hồ Quang) [142], Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (Trần Thị Lệ Thanh) [174], Thơ mới với thơ Đường (Lê Thị Anh) [5 ận án Tiến sĩ Thơ mới 1932 - 1945 nhìn từ sự vận động thể loại của Hoàng Sĩ Nguyên [121]. Đây là công trình đầu tiên đi sâu vào các thể thơ của Thơ mới để tìm hiểu tiến trình vận động, sự tƣơng tác giữa các yếu tố thể thơ một cách khá công phu, hệ thống; từ đây cung cấp một cái nhìn khách quan về con đƣờng nảy sinh, phát triển và thành tựu của Thơ 7 mới, vị trí của Thơ mới trong văn mạch dân tộc. Song, vấn đề đặc trƣng các thể thơ không phải là mục đích chính của đề tài nên chƣa đƣợc tác giả luận án chú trọng.

Nhìn chung, Thơ mới và vấn đề thể thơ của Thơ mới đã đƣợc quan tâm, nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào tập trung khảo sát hệ thống thể thơ của Thơ mới một cách đầy đủ, hệ thống. Trên lịch trình nghiên cứu hơn tám mƣơi năm qua, Thơ mới, nhất là ở phƣơng diện các thể thơ vẫn còn nhiều bỏ ngỏ. Vấn đề nghiên cứu các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 Các thể thơ truyền thống (bao hàm cả các thể thơ du nhập và các thể thơ thuần Việt) trong Thơ mới, nhất là các thể lục bát (LB), song thất lục bát (STLB), ảnh hƣởng của thể hát nói (HN) đến thể 8 chữ, và thơ Đƣờng luật (ĐL), trên phƣơng diện lý thuyết và trong lịch sử văn học dân tộc nói chung, đƣợc nhiều nhà nghiên cứu rất quan tâm.

Trƣớc 1945, Dƣơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu bƣớc đầu khảo sát âm luật cùng thể cách Thơ mới và nhận thấy “phần nhiều là những bài viết theo lối câu có số chữ nhất định” mà “thƣờng dùng” nhất là lối câu 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ [59, 431-432]. Hoài Thanh trong Một thời đại trong thi ca ít nhiều chú ý nhận diện một số thể thơ dân tộc trong Thơ mới: “Thơ Đƣờng luật vừa động đến là tan. Thất ngôn và ngũ ngôn rất thịnh. Ca trù biến thành thơ 8 chữ.

Lục bát vẫn đƣợc trân trọng: ảnh hƣởng Truyện Kiều và ca dao. Song thất lục bát cơ hồ chết, không hiểu vì sao. Thơ 4 chữ trƣớc chỉ thấy trong những bài vè, nay cất lên hàng những thể thơ nghiêm chỉnh. Lục ngôn thể trƣớc chỉ thấy trong Bạch Vân thi tập thỉnh thoảng cũng đƣợc dùng.

Từ khúc chết dần với thơ tự do…” [175, 42].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ