Luận án tiến sĩ: Hệ thống thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932-1945 - Biện Thị Quỳnh Nga

Khám phá luận án tiến sĩ chuyên sâu về hệ thống thể loại truyền thống trong Thơ Mới (1932-1945). Phân tích cấu trúc, sự biến đổi và ảnh hưởng.

Trường đại học

Đại học Công đoàn

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2007

171
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống thể loại truyền thống trong Thơ mới 1932 1945

Thơ mới 1932-1945 đánh dấu bước đột khởi chưa từng có trong lịch sử thơ ca dân tộc. Phong trào này thực hiện cuộc cách tân sâu sắc, hiện đại hóa thơ Việt. Tuy nhiên, bên cạnh các thể thơ mới du nhập, hệ thống thể loại truyền thống vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ. Các thể thơ như lục bát, song thất lục bát, hát nói, đường luật chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số sáng tác thời kỳ này. Nghiên cứu hệ thống thể loại truyền thống trong Thơ mới giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa cái cũ và cái mới. Đây là vấn đề then chốt để hiểu đầy đủ diện mạo Thơ mới. Luận án tiến sĩ của Biện Thị Quỳnh Nga đã hệ thống hóa toàn diện vấn đề này. Công trình nghiên cứu vị thế, vai trò, chức năng, nội dung và thi pháp của các thể truyền thống. Phương pháp tiếp cận liên ngành được áp dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các thể truyền thống không hề lỗi thời mà có khả năng thích ứng cao. Chúng vừa giữ gìn bản sắc dân tộc vừa hòa nhập với tinh thần hiện đại của thời đại.

1.1. Bối cảnh lịch sử ra đời Thơ mới 1932 1945

Thơ mới ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây. Phong trào được khởi xướng từ năm 1932 với sự góp mặt của nhiều nhà thơ tiên phong. Thơ mới tiếp thu cái tốt đẹp trong thơ truyền thống đồng thời học tập sáng tạo thơ ca nước ngoài, đặc biệt là thơ Pháp. Quan niệm nghệ thuật mới, quan niệm mới về con người, nhãn quan ngôn ngữ mới đã tạo nên diện mạo hoàn toàn khác biệt. Thơ mới thuộc loại hình thơ hiện đại, mở ra thời đại mới trong thi ca Việt Nam.

1.2. Khái niệm thể thơ truyền thống trong nghiên cứu

Thể thơ truyền thống là khái niệm chỉ các hình thức thơ đã được định hình qua nhiều thế hệ sáng tác. Trong hệ thống thơ Việt Nam, thể truyền thống gồm hai nhóm chính. Nhóm thể thơ du nhập từ văn học Trung Hoa như đường luật, cổ phong. Nhóm thể thơ thuần Việt như lục bát, song thất lục bát, hát nói. Mỗi thể thơ có quy tắc riêng về vần, luật, cấu trúc. Việc xác định ranh giới giữa hai nhóm này là cơ sở quan trọng cho phân loại và đánh giá.

II. Phân tích vị thế và vai trò thể thơ truyền thống trong Thơ mới

Vị thế của các thể truyền thống trong Thơ mới là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Thực tế sáng tác cho thấy thể truyền thống chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng sản phẩm thơ 1932-1945. Lục bát và đường luật là hai thể được sử dụng nhiều nhất. Tuy nhiên, vị thế của chúng có sự khác biệt rõ rệt giữa các giai đoạn và từng nhà thơ. Giai đoạn đầu, thể truyền thống còn chiếm ưu thế. Giai đoạn sau, thể mới du nhập dần lấn át. Sự cạnh tranh giữa các thể thơ phản ánh quá trình chuyển đổi từ loại hình trung đại sang hiện đại. Các thể truyền thống có khả năng lôi cuốn độc giả riêng. Chúng đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của bộ phận công chúng yêu thích truyền thống. Đồng thời, các thể này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều nhà thơ lớn như Nguyễn Bính, Tế Hanh đã thành công với thể truyền thống trong bối cảnh Thơ mới.

2.1. Tỷ lệ và dung lượng tồn tại của thể truyền thống

Thống kê cho thấy thể truyền thống chiếm khoảng ba mươi phần trăm tổng số bài thơ trong giai đoạn 1932-1945. Lục bát là thể có số lượng sáng tác lớn nhất trong nhóm truyền thống. Đường luật đứng thứ hai, đặc biệt phổ biến ở các nhà thơ có nền tảng Hán học. Song thất lục bát và hát nói có tỷ lệ khiêm tốn hơn nhưng vẫn được khai thác. Dung lượng bài thơ truyền thống thường ngắn hơn thể mới. Sự phân bố không đồng đều này phản ánh xu hướng tiếp nhận đa dạng của công chúng.

2.2. Khả năng thu hút độc giả của thể thơ truyền thống

Thể thơ truyền thống có lợi thế lớn trong việc tiếp cận đông đảo công chúng. Nhịp điệu quen thuộc của lục bát dễ đi vào lòng người. Vần luật chặt chẽ của đường luật tạo cảm giác thẩm mỹ trang trọng. Nhiều bài thơ thể truyền thống được phổ nhạc và trở thành ca khúc nổi tiếng. Nguyễn Bính là minh chứng thành công nhất khi dùng lục bát để chinh phục bạn đọc. Tuy nhiên, một số nhà thơ cách tân cho rằng thể truyền thống hạn chế khả năng biểu đạt nội dung mới. Sự cân bằng giữa giữ gìn và đổi mới là thách thức lớn.

III. Phương pháp nghiên cứu chức năng và thi pháp thể loại truyền thống

Nghiên cứu chức năng và thi pháp của thể truyền thống trong Thơ mới đòi hỏi phương pháp tiếp cận đa chiều. Chức năng của thể thơ không chỉ dừng lại ở trữ tình mà còn bao gồm tự sự, ngâm tụng, biểu cảm. Mỗi thể thơ có thế mạnh riêng trong việc thể hiện nội dung xác định. Truyện thơ mạnh về tự sự, ngâm khúc thiên về tự tình, hát nói phô diễn tâm trạng. Thi pháp thể thơ truyền thống trong Thơ mới chịu thử thách lớn từ yêu cầu đổi mới. Các nhà thơ phải dung hòa giữa quy tắc truyền thống và tinh thần hiện đại. Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng rộng rãi. Việc phân tích thi pháp từ góc độ thể loại giúp nhận diện rõ nét đặc trưng sáng tạo. Kết hợp phân tích định tính và định lượng, nghiên cứu chỉ ra những thành công và bất cập. Phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa học và xã hội học bổ trợ hiệu quả cho nghiên cứu thể loại học.

3.1. Chức năng của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới

Trữ tình là đặc tính cố hữu của thơ ca, trở thành yếu tố xác định chủng loại. Song các thể thơ không chỉ có chức năng duy nhất là trữ tình. Mỗi thể thơ là chỉnh thể độc lập có quyền phô diễn thế mạnh ở loại chức năng nhất định. Truyện thơ rất mạnh về tự sự. Ngâm khúc thiên về tự tình, giãi bày cảm xúc. Hát nói phô diễn tình cảm, tâm trạng một cách tự nhiên. Sự ăn nhập giữa nội dung và cách thức biểu đạt tạo nên tầm vóc tác phẩm.

3.2. Thi pháp thể thơ truyền thống trước thử thách hiện đại hóa

Thi pháp thể thơ truyền thống trong Thơ mới đối mặt với nhiều thách thức. Yêu cầu biểu đạt nội dung mới đòi hỏi cách thức thể hiện mới. Các nhà thơ phải tìm kiếm sự hài hòa giữa quy tắc cũ và tinh thần mới. Lục bát được cách tân bằng cách mở rộng đề tài, đa dạng hóa nhịp điệu. Đường luật được biến đổi linh hoạt về vần luật. Song thất lục bát và hát nói được khai thác ở góc độ biểu cảm hiện đại. Những thử nghiệm này cho thấy khả năng thích ứng đáng kể của thể truyền thống.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu thể loại truyền thống trong Thơ mới

Nghiên cứu hệ thống thể loại truyền thống trong Thơ mới 1932-1945 mang lại nhiều kết quả quan trọng. Các thể truyền thống không hề mất đi vị thế trong bối cảnh hiện đại hóa. Chúng thích ứng linh hoạt, vừa giữ gìn bản sắc vừa đáp ứng yêu cầu mới. Tính chất mở, cá nhân và tự do của Thơ mới tạo không gian cho sự sáng tạo trong khuôn khổ truyền thống. Kết luận này có giá trị lý luận và thực tiễn lớn. Về lý luận, nghiên cứu bổ sung hệ thống quan niệm về vai trò thể loại trong quá trình chuyển đổi văn học. Về thực tiễn, kết quả gợi mở hướng sáng tác và giảng dạy thơ ca truyền thống. Ứng dụng của nghiên cứu mở rộng sang nhiều lĩnh vực. Giáo dục văn học cần chú trọng dạy thể thơ truyền thống một cách có hệ thống. Sáng tác thơ đương đại có thể kế thừa tinh hoa thể loại truyền thống. Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cũng cần đến hiểu biết sâu sắc về thể thơ.

4.1. Đóng góp lý luận về thể loại học thơ Việt Nam

Luận án đóng góp hệ thống quan niệm mới về vị thế thể loại truyền thống trong lịch sử thơ ca. Nghiên cứu chứng minh thể truyền thống không phải tàn dư quá khứ mà là thành phần hữu cơ. Phương pháp phân loại hai nhóm du nhập và thuần Việt được hệ thống hóa chặt chẽ. Khái niệm về khả năng thích ứng của thể thơ được làm rõ. Đóng góp lớn nhất là chỉ ra nguyên tắc nền tảng cho sự tồn tại bền vững của thể truyền thống. Kết quả này đặt nền móng cho các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.

4.2. Ứng dụng trong giáo dục và sáng tác thơ ca hiện đại

Kết quả nghiên cứu có nhiều ứng dụng thiết thực trong giáo dục văn học. Chương trình giảng dạy cần cân đối giữa thơ mới và thơ truyền thống. Sinh viên cần hiểu rõ đặc trưng thi pháp từng thể thơ để cảm thụ sâu sắc. Trong sáng tác, nhà thơ đương đại có thể khai thác thế mạnh của thể truyền thống. Lục bát và hát nói vẫn là hình thức biểu đạt hiệu quả cho nhiều đề tài hiện đại. Việc kết hợp truyền thống và hiện đại tạo nên bản sắc riêng cho thơ Việt Nam.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Tæng liªn ®oµn lao ®éng viÖt nam ViÖn hµn l©m khoa Tr-êng häcc«ng ®¹i häc x· héi viÖt nam ®oµn häc viÖn khoa häc x· héi BiÖn thÞ quúnh nga ®¹I häc c«ng ®oµn hÖ thèng thÓ lo¹i truyÒn thèng trong th¬ míi 1932 - 1945 Ngµnh: tµi chÝnh kÕ to¸n CHUY£N NGµNH: V¡N HäC VIÖT NAM ®Ò tµi: M· Sè: 62.01 LuËn ¸n tiÕn sÜ v¨n häc Ng-êi h-íng dÉn khoa häc: 1. Phan Träng Th-ëng 2. L-u Kh¸nh th¬ hµ néi Hµ Néi, - 2013 th¸ng 5/ 2007 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận án: Biện Thị Quỳnh Nga MỤC LỤC MỞ ĐẦU . Lý do chọn đề tài .2 ệm vụ nghiên cứu . Phƣơng pháp nghiên cứu . Đóng góp mới của luận án .3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU . Thơ mới 1932 - 1945 từ phƣơng diện thể thơ trên lịch trình nghiên cứu suốt hơn tám thập kỷ qua . Vấn đề nghiên cứu các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 .8 CHƢƠNG 2: VỊ THẾ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG TRONG THƠ MỚI 1932 - 1945 . Nhìn chung về loại hình Thơ mới 1932 - 1945 . Hiện tượng Thơ mới 1932 - 1945 trong lịch sử thơ ca dân tộc . Loại hình Thơ mới 1932 - 1945, nhìn từ góc độ thể thơ . Vị thế của các thể truyền thống trong “bảng” thể thơ của Thơ mới . Một vài giới thuyết về thể thơ truyền thống trong Thơ mới . Tỉ lệ, dung lượ ạng thức tồn tại của các thể truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 . Khả năng lôi cuốn độc giả của các thể thơ truyền thống trong sự “cạnh tranh” với các thể khác của Thơ mới 1932 - 1945 . Vai trò của các thể thơ truyền thống đối với Thơ mới 1932 - 1945 .43 CHƢƠNG 3: CHỨC NĂNG VÀ NỘI DUNG CÁC THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG TRONG THƠ MỚI 1932 – 1945. Khái luận về chức năng và nội dung của các thể thơ . Các thể truyền thống trong lịch sử thơ ca dân tộc trƣớc Thơ mới . Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ du nhập . Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ thuần Việt . Đặc trƣng chức năng và nội dung các thể truyền thống trong Thơ mới . Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ du nhập . Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ thuần Việt . Những thành công và bất cập về chức năng và nội dung của các thể truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 (thay cho tiểu kết) .97 CHƢƠNG 4: THI PHÁP CÁC THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG TRONG THƠ MỚI 1932 – 1945 . Thi pháp và thi pháp các thể thơ . Thi pháp các thể truyền thống trong lịch sử thơ ca dân tộc trƣớc Thơ mới . Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ du nhập . Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ thuần Việt . Thi pháp các thể truyền thống trong Thơ mới . Các thể truyền thống trước những thử thách của thời đại Thơ mới . Thi pháp các thể truyền thống du nhập trong Thơ mới. Thi pháp các thể truyền thống thuần Việt trong Thơ mới . Những thành công và bất cập về thi pháp của các thể truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 (thay cho tiểu kết) .147 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT LB : Lục bát STLB : Song thất lục bát HN : Hát nói ĐL : Đƣờng luật CP : Cổ phong Nxb : Nhà xuất bản Tr : Trang TP : Thành phố [ ] : Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu tham khảo đứng trƣớc, số trang đứng sau. Ví dụ: [83, 53] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu tham khảo là 83, nhận định trích dẫn nằm ở trang 53 của tài liệu này. Lý do chọn đề tài 1. Thơ mới 1932 - 1945 là cuộc cách tân (có ngƣời gọi là cuộc “cách mạng”) thắng lợi lớn về thơ, đánh dấu một bƣớc ngoặt lớn trong lịch sử thơ ca và văn học dân tộc. Những đóng góp của nó cho quá trình hiện đại hoá thơ ca nói riêng và văn học dân tộc nói chung là khó có thể thay thế. Thơ mới – ) đã đƣợc nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên, ủa Thơ mới ạn kiệt. Xung quanh vấn đề đánh giá thành tựu của Thơ mới (xét về mặt thể loại) cũng nhƣ của cả phong trào thơ (xét về mặt “khuynh khƣớng”, “tổ chức”) vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến không thống nhất… Thơ mới ẫ ần phải đƣợc tiếp tục nghiên cứ ện loại hình - thể loại. Việc nhận chân giá trị cũng nhƣ bản chất của Thơ mới có thể đƣợc tiến hành khảo sát, xác định trên nhiều phƣơng diện và bằng nhiều con đƣờng khác nhau. Chúng tôi chọn hƣớng tiếp cận Thơ mới từ phƣơng diện thể loại, đặc biệt ở đây là những thể thơ truyền thống (bao hàm cả các thể thơ du nhập và các thể thơ thuần Việt), vì nhận thấy đây vừa là chỗ đem lại vinh quang cho thơ Việt suốt cả một quá trình dài hàng nghìn năm, vừa là chỗ dễ gây ngộ nhận cho không ít độc giả (tƣởng rằng Thơ mới là một sự phủ định truyền thống), từ đây cung cấp một cái nhìn sâu hơn, khoa học và thoả đáng hơn về đặc trƣng loại hình của Thơ mới. Mặt khác, tìm hiểu, nghiên cứu văn học theo xu hƣớng loại hình, thể loại đang là hƣớng nghiên cứu có nhiều triển vọng và ý nghĩa. Trên hành trình phát triển và hiện đại hóa thơ ca dân tộc, sự hiện diện của các thể thơ truyền thống trong một cuộc cách tân vĩ đại về thơ ca (qua hiện tƣợng Thơ mới) thực sự có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng. Chức năng, nội dung và thi pháp của những thể thơ này trong Thơ mới có gì biến đổi không? Nó tồn tại nhƣ thế nào trong thế cạnh tranh với các thể thơ hiện đại - “mới”? Đây đang là những câu hỏi mà cho đến nay vẫn chƣa có những lời giải thoả đáng. Từ đây, có thể tìm thấy nhiều bài học quý báu cho quá trình đổi mới thơ Việt. Thơ mới nói chung, các thể thơ truyền thống trong Thơ mới nói riêng giữ vị trí quan trọng trong chƣơng trình dạy - học ngữ văn ở các nhà trƣờng phổ thông 1 và bậc đại học. Thực hiện đề tài này, luận án còn nhằm phục vụ cho việc tham khảo và vận dụng vào dạy - học ngữ văn ở nhà trƣờng (nhất là ở các trƣờng đại học). Đối tượng nghiên cứu Các thể thơ truyền thố ả hai hệ thống thể thơ du nhập và thuần Việt) trong Thơ mới 1932 - 1945. Phạm vi nghiên cứu Luận án chỉ tập trung khảo sát, tìm hiểu các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 (các thể – ền thố luận án vẫn quan tâm nhƣng chỉ dùng làm cơ sở để đối sánh). Văn bản khảo sát chính là tuyển tập Thơ mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm [128]. Ngoài ra, còn một số tài liệu khác đƣợc chúng tôi dùng khảo sát thêm, so sánh và đối chiếu, gồm: Thi nhân Việt Nam [175], Việt Nam thi nhân tiền chiến [95] và 15 tuyển thơ của các tác giả tiêu biểu cho phong trào Thơ mới của Nxb Hội Nhà văn, 1995 [129]. ệm vụ nghiên cứu 3. ứu – ặ (chức năng, nộ ị thế 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3. Xác định vị thế và vai trò của các thể thơ truyền thống trong hệ thống thể thơ của Thơ mới 1932 - 1945. Khảo sát, phân tích, luận giải, xác định đặc trƣng chức năng và nội dung của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945. Khảo sát, phân tích, xác định đặc trƣng thi pháp của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945. Cuối cùng rút ra một số kết luận về hệ thống các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945. Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụ – ều phƣơng pháp nghiên cứ – ận diện đặ cũng ch là chìa khoá nhằm giải mã “ ” và đặc trƣng các thể thơ trên ba phƣơng diện cơ bả : chức năng, nội dung và thi pháp. Các phƣơng pháp khác đƣợc vận dụng trong luận án đều giữ vai trò riêng: – ; phương – ; ; – ,. Đóng góp mới của luận án Luận án là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu đặc trƣng chức năng, nội dung và thi pháp của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 với một cái nhìn hệ thống; từ đây xác định vị thế, vai trò, vận mệnh và sức sống của các thể thơ này trong thơ Việt Nam hiện đại. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định con đƣờng đi đến hiện đại của thơ ca dân tộc rõ ràng không phải là con đƣờng tách rời, cắt mạch với truyền thống. Sức mạnh của các yếu tố mang giá trị của truyền thống vẫn có thể tạo nên thành tựu mới nếu biết phát huy và làm mới nó. Kết quả của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, giúp cho việc dạy - học văn học trong nhà trƣờng và tiếp nhận Thơ mới, thơ hiện đại đƣợc tốt hơn. Cấu trúc Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án đƣợc triển khai trong bốn chƣơng: Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3 Chương2: Vị thế và vai trò của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 Chương 3: Chức năng và nội dung của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 Chương 4: Thi pháp các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945. 4 Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thơ mới 1932 - 1945 từ phương diện thể thơ trên lịch trình nghiên cứu suốt hơn tám thập kỷ qua Vấn đề nghiên cứu thể loại nói chung và các thể thơ nói riêng trong phong trào Thơ mới đã đƣợc đề cập từ rất sớm. Ngay từ khi mới ra đời, Thơ mới trƣớc hết đƣợc nhìn nhận ở góc độ thể loại, đƣợc hiểu là thơ “tự do” (theo nghĩa là mộ thơ” hay “thể thơ”) nhằm phân biệt, đối lập với những bài thơ làm theo hình thức thơ luật Đƣờng một cách gò bó, khuôn sáo, xuất hiện không ít trên báo chí công khai thời bấy giờ. Phan Khôi trong bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ (1932) xác định đó là lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm tả ra bằng những câu có vần mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết” [85, 53].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ