Luận án tiến sĩ tìm hiểu văn học trên Tri tân tạp chí - Nguyễn Thị Phương Lan

Luận án tiến sĩ ngữ văn nghiên cứu chuyên sâu về hiện tượng văn bản đăng tải trên trang 'Tri Tân Tạp chí'. Phân tích nội dung, phong cách và giá trị văn học

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2014

172
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận án tiến sĩ ngữ văn tìm hiểu văn trên Tri Tân tạp chí

Luận án tiến sĩ ngữ văn của Nguyễn Thị Phương Lan, hoàn thành năm 2014 tại Học viện Khoa học Xã hội, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Đề tài tập trung nghiên cứu văn học đăng tải trên tạp chí Tri Tân, một ấn phẩm văn hóa quan trọng giai đoạn 1940-1945. Luận án thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 62.01, do PGS.TS Lại Văn Hùng và TS Phạm Thị Thu Hương hướng dẫn khoa học. Nghiên cứu đi sâu phân tích vai trò của Tri Tân trong đời sống văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Tạp chí Tri Tân ra đời trong bối cảnh báo chí Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, với ba nhóm văn phái nổi bật hình thành. Tri Tân không chỉ là diễn đàn văn học mà còn là công trình khoa học cung cấp nguồn tư liệu quý về lịch sử và văn hóa. Luận án đặt Tri Tân trong mối quan hệ với Đề cương văn hóa Việt Nam 1943, bản tuyên ngôn thúc đẩy phong trào phục hưng văn hóa dân tộc. Công trình nghiên cứu tổng thể về tạp chí này giúp bổ sung khoảng trống trong lĩnh vực nghiên cứu văn học báo chí Việt Nam hiện đại.

1.1. Bối cảnh ra đời của tạp chí Tri Tân

Tạp chí Tri Tân xuất hiện trong giai đoạn 1940-1945, thời kỳ báo chí Việt Nam trải qua nhiều biến động chính trị và văn hóa. Trước đó, từ đầu thế kỷ XX, báo chí Việt Nam đã hình thành và phát triển qua các giai đoạn khác nhau. Sự ra đời của ba nhóm văn phái nổi bật tạo tiền đề cho sự phát triển đa dạng của tạp chí. Tri Tân ra đời trong bối cảnh chính trị-xã hội phức tạp, với sự giao thoa giữa tư tưởng phương Tây và truyền thống dân tộc. Tạp chí tuyên bố không làm chính trị, chỉ thực hiện sứ mệnh cho một nền văn hóa chân chính. Tuy nhiên, thực tế Tri Tân đã đóng vai trò quan trọng trong giáo dục truyền thống đoàn kết và yêu nước.

1.2. Vị trí của Tri Tân trong nghiên cứu văn học Việt Nam

Trước luận án này, Tri Tân tạp chí chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống. Các công trình trước đây thường tập trung vào khía cạnh báo chí hoặc nghiên cứu riêng lẻ từng tác gia, thể loại. Nhiều nghiên cứu về văn học giai đoạn 1940-1945 tách rời khỏi bối cảnh báo chí và xuất bản, vốn là nơi các tác phẩm xuất hiện và đến với công chúng. Điều này khiến Tri Tân và nhiều tờ báo, tạp chí khác chỉ xuất hiện như những ký tự mờ nhạt trong nghiên cứu văn học. Luận án của Nguyễn Thị Phương Lan lấp đầy khoảng trống này bằng cách nghiên cứu tổng thể tạp chí từ nhiều góc độ khác nhau.

II. Phân tích nội dung văn sáng tác trên Tri Tân tạp chí

Văn sáng tác trên Tri Tân tạp chí bao gồm nhiều thể loại phong phú, phản ánh đời sống văn học sôi động giai đoạn 1940-1945. Về văn xuôi, tạp chí đăng tải nhiều tiểu thuyết lịch sử thể hiện khuynh hướng ôn cố, phục cổ đang phát triển mạnh mẽ. Thể loại kịch trên Tri Tân cũng có diện mạo đặc sắc với quá trình kế thừa và tiếp biến từ truyền thống. Đặc biệt, kịch thơ viết về đề tài lịch sử chiếm vị trí quan trọng, trong đó vở chính kịch Vũ Như Tô là tác phẩm đặc sắc tiêu biểu. Tác giả luận án phân tích quá trình kế thừa và tiếp biến của thể loại kịch ở Việt Nam qua các tác phẩm đăng trên tạp chí. Về văn vần, thơ trên Tri Tân có diện mạo riêng nhưng cũng tồn tại những giới hạn nhất định. Nghiên cứu chỉ ra rằng văn sáng tác trên Tri Tân chịu ảnh hưởng sâu sắc của tinh thần Đề cương văn hóa Việt Nam 1943. Các tác giả trên tạp chí tìm về giá trị truyền thống để chống lại văn hóa nô dịch và lạc hậu. Nội dung sáng tác phản ánh nguyện vọng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của nhân dân trong thời kỳ đấu tranh cách mạng.

2.1. Tiểu thuyết lịch sử và kịch thơ trên Tri Tân

Tiểu thuyết lịch sử trên Tri Tân tạp chí thể hiện rõ khuynh hướng văn học ôn cố, phục cổ đang thịnh hành. Các tác giả khai thác đề tài lịch sử dân tộc nhằm giáo dục truyền thống yêu nước và đoàn kết chống ngoại xâm. Thể loại kịch trên tạp chí trải qua quá trình kế thừa và tiếp biến từ kịch truyền thống sang kịch hiện đại. Kịch thơ viết về đề tài lịch sử trở thành đặc trưng nổi bật, với vở Vũ Như Tô là minh chứng cho sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại trong sáng tác kịch.

2.2. Thơ và giới hạn của văn vần trên Tri Tân

Thơ trên Tri Tân tạp chí có diện mạo riêng biệt trong bức tranh văn học giai đoạn 1940-1945. Các tác phẩm thơ phản ánh tinh thần thời đại với nhiều thể loại và phong cách khác nhau. Tuy nhiên, luận án cũng chỉ ra những giới hạn của thơ trên tạp chí, bao gồm sự hạn chế về đổi mới hình thức và nội dung. Những giới hạn này liên quan đến bối cảnh chính trị-xã hội phức tạp và sự ảnh hưởng của nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau. So với các thể loại khác, thơ trên Tri Tân chưa thực sự bứt phá về nghệ thuật.

III. Phương pháp nghiên cứu văn học trên Tri Tân tạp chí

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu đa chiều, kết hợp nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau để phân tích toàn diện nội dung văn học trên Tri Tân tạp chí. Phương pháp lịch sử-xã hội được sử dụng để đặt các tác phẩm trong bối cảnh chính trị, xã hội và văn hóa giai đoạn 1940-1945. Phương pháp phân tích văn bản giúp đi sâu vào cấu trúc, ngôn ngữ và nghệ thuật của từng tác phẩm đăng trên tạp chí. Nghiên cứu sử dụng nguồn tư liệu phong phú từ tư liệu thành văn đến tư liệu điền dã. Việc tra cứu, tham khảo và khai thác các văn bản gốc trong nước, có đối chiếu so sánh với văn bản nước ngoài đảm bảo tính khoa học. Nhiều cuộc điều tra công phu trong nhân dân các địa phương được thực hiện để thu thập tư liệu bổ sung. Phương pháp so sánh đối chiếu được áp dụng để làm rõ vị trí của Tri Tân trong đời sống văn học Việt Nam. Luận án cũng sử dụng phương pháp thống kê để phân tích hệ thống tác giả, tác phẩm và thể loại trên tạp chí. Cách tiếp cận liên ngành giữa văn học, báo chí và lịch sử văn hóa tạo nên nét đặc sắc của công trình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu tổng thể này cho phép thấy được bức tranh toàn cảnh về văn học trên Tri Tân tạp chí.

3.1. Hệ thống tư liệu và nguồn dữ liệu nghiên cứu

Hệ thống tư liệu của luận án bao gồm nhiều loại nguồn khác nhau, đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy cao. Tư liệu thành văn bao gồm các số tạp chí Tri Tân gốc, các công trình nghiên cứu trước đây về báo chí và văn học Việt Nam. Tư liệu điền dã thu được từ nhiều cuộc điều tra công phu trong nhân dân tại các địa phương liên quan đến tạp chí. Việc đối chiếu so sánh với văn bản nước ngoài giúp mở rộng góc nhìn và nâng cao chất lượng phân tích nghiên cứu.

3.2. Phương pháp phân tích thể loại và tác giả

Phương pháp phân tích thể loại được áp dụng để hệ thống hóa các loại hình văn học xuất hiện trên Tri Tân tạp chí. Nghiên cứu phân loại tác phẩm theo thể loại gồm văn xuôi, kịch và thơ, từ đó làm rõ đặc điểm riêng của từng loại hình. Phương pháp phân tích tác giả giúp nhận diện đội ngũ sáng tác trên tạp chí, bao gồm các trí thức và học giả có uy tín. Sự kết hợp giữa phân tích thể loại và tác giả cho thấy mối quan hệ giữa bối cảnh sáng tác và sản phẩm văn học trên tạp chí.

IV. Kết luận và ứng dụng của luận án tiến sĩ về Tri Tân tạp chí

Luận án tiến sĩ về văn trên Tri Tân tạp chí mang lại nhiều giá trị khoa học và thực tiễn đáng kể cho lĩnh vực nghiên cứu văn học Việt Nam. Công trình cung cấp cái nhìn toàn diện về một tạp chí văn hóa quan trọng giai đoạn 1940-1945, vốn bị bỏ ngỏ trong nghiên cứu trước đó. Kết quả nghiên cứu cho thấy Tri Tân đóng vai trò cầu nối giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại Việt Nam. Tạp chí là nơi hội tụ của nhiều xu hướng văn học, từ ôn cố phục cổ đến cách tân đổi mới. Nghiên cứu cũng chứng minh tác động của Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 đối với hoạt động sáng tác trên tạp chí. Giá trị của luận án nằm ở việc cung cấp nguồn tư liệu quý cho các nhà nghiên cứu về lịch sử văn học và báo chí Việt Nam. Các luận văn, bài viết trên Tri Tân có thể được khai thác để bổ sung và nâng cao các công trình nghiên cứu hiện có. Ứng dụng của công trình mở rộng sang lĩnh vực giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại trong các cơ sở giáo dục. Nghiên cứu cũng góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

4.1. Giá trị khoa học của luận án tiến sĩ về Tri Tân

Giá trị khoa học đầu tiên của luận án là lấp đầy khoảng trống trong nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn 1940-1945. Công trình cung cấp cách tiếp cận tổng thể, liên ngành giữa văn học, báo chí và lịch sử văn hóa. Nghiên cứu mang lại nguồn tư liệu phong phú từ văn bản gốc trong nước đến tư liệu điền dã thực địa. Kết quả phân tích các thể loại văn học trên tạp chí giúp hiểu rõ hơn quá trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn và hướng nghiên cứu tiếp theo

Ý nghĩa thực tiễn của luận án thể hiện ở khả năng ứng dụng trong giảng dạy và nghiên cứu văn học Việt Nam. Các tư liệu và kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng giáo trình và tài liệu tham khảo. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sang các tạp chí văn học cùng thời kỳ để so sánh đối chiếu. Việc số hóa toàn bộ nội dung Tri Tân tạp chí sẽ giúp bảo tồn và phổ biến rộng rãi nguồn tư liệu quý giá này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ ngữ văn tìm hiểu văn trên tri tân tạp chí

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VĂN TRÊN TRI TÂN TẠP CHÍ Tri tân là một tạp chí ra đời và phát triển trong một bối cảnh đặc biệt. Tình hình chính trị trên thế giới diễn ra những biến động dữ dội, chứa đựng các mâu thuẫn chồng chéo, phức tạp. Thế chiến lần thứ hai bùng nổ cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít… đã tạo nên tâm lý hoang mang, bất ổn trong nhân loại, nhất là đối với các dân tộc thuộc địa. Ở trong nước, những năm 40 của thế kỷ XX, không khí chính trị cũng bức bối, căng thẳng; tình hình văn hóa, tư tưởng thì bộn bề, đa tạp; đời sống báo chí và văn học bị kiểm soát ngặt nghèo.

Trước tất cả khó khăn, thách thức ấy, Tri tân tạp chí vẫn vượt qua và đứng vững để hoàn thành sứ mệnh: “Xây dựng một nền văn hóa chân chính cho nước nhà” (Lời Phi lộ). Theo dõi lịch trình nghiên cứu về Tri tân tạp chí và những vấn đề có liên quan đến việc tìm hiểu, nghiên cứu về bộ phận văn học trên tạp chí Tri tân từ trước tới nay, chúng tôi tập hợp, tiếp nhận và đánh giá thành tựu của những công trình đi trước trên ba phương diện: Thứ nhất, đặt Tri tân tạp chí trong những công trình nghiên cứu về báo và tạp chí nửa đầu thế kỷ XX, luận án xác định vai trò của báo chí nói chung và tạp chí Tri tân nói riêng đối với lịch sử báo chí và nền văn chương hiện đại. Thứ hai, đặt Tri tân tạp chí trong những công trình nghiên cứu về văn học, luận án nhấn mạnh đến mối quan hệ gắn bó, tương tác không thể tác rời giữa báo chí và văn học. Thứ ba, từ những công trình trực tiếp nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn về Tri tân tạp chí, chúng tôi phân tích, đánh giá những vấn đề có liên quan mật thiết đến đề tài, những vấn đề còn tồn tại.

Từ đó, luận án nêu lên vấn đề mà đề tài sẽ tập trung nghiên cứu và giải quyết. Tri tân trong những công trình nghiên cứu về báo, tạp chí nửa đầu thế kỷ XX. Không phải là một hiện tượng đột hiện trong văn học Việt Nam, có thể khẳng định, tạp chí Tri tân ra đời do nhu cầu bức thiết của lịch sử văn học và lịch sử dân tộc. Ở phần này, chúng tôi đặt tạp chí Tri tân trên nền phát triển của lịch sử báo chí nói chung để thấy Tri tân đã kế thừa báo chí đi trước trên hai phương diện: Sự phát triển của 8 báo chí từ khởi thủy đến trước khi Tri tân ra đời và sự phát triển của văn học trên báo chí từ tờ báo Quốc ngữ đầu tiên (Gia Định báo, 1865) đến khi tạp chí Tri tân ra đời.

Báo chí Việt Nam xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX và thực sự dành được địa hạt, nguồn sống riêng từ những năm 20 của thế kỷ XX. Trong rất nhiều điều kiện, nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời của nền báo chí tiếng Việt, cần phải khẳng định nguyên nhân có ý nghĩa tiên quyết là do âm mưu xâm lược và đồng hóa của chính quyền thực dân. Song, người Việt Nam (nhất là người trí thức) với tinh thần dân tộc, với niềm tự tôn, tự hào về truyền thống, đặc biệt với bản lĩnh của mình đã nắm lấy cơ hội, xoay chuyển tình thế, âm thầm xây dựng một nền báo chí tiếng Việt tồn tại độc lập, song hành với báo chí tiếng Pháp. Khi nghiên cứu về Lịch sử báo chí Việt Nam, các ông Huỳnh Văn Tòng, Hồng Chương, Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Thành… dù có những cách lập luận và dẫn giải khác nhau song tựu chung lại các nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định vai trò, vị trí của báo chí đối với văn học, đặc biệt là về mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa báo chí và văn học.

Báo chí là cái nôi nâng đỡ, tạo đà cho văn học phát triển và văn học làm cho khuôn diện và đời sống báo chí thêm phong phú, đa sắc. Hơn nữa, sự ra đời và phát triển của báo chí Việt Nam đã đánh dấu một bước trưởng thành của nền quốc văn Việt Nam. Tác giả Huỳnh Văn Tòng trong công trình Lịch sử báo chí Việt Nam, từ khởi thuỷ đến năm 1930 (1973) đã sớm xác định vai trò của báo chí Việt Nam trên cả hai phương diện: chính trị và văn học. Về phương diện văn học, ông đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của báo chí trong việc khai sinh, truyền bá, thúc đẩy chữ Quốc ngữ phát triển.

Bởi đó là điều kiện thuận lợi mở ra cơ hội tiếp xúc với những chân trời tri thức mới và dần dần hiện đại nền văn học nước nhà: “Chính báo chí là phương tiện duy nhất lúc bấy giờ đã cho phép nhà văn phổ biến trong dân chúng nền văn học mới, nền văn học chữ Quốc ngữ cùng với những tư tưởng, những học thuyết Tây phương (…). Tuy nhiên trên thực tế, những nhà trí thức Việt Nam lúc bấy giờ đã biết lợi dụng chính sách tuyên truyền văn hóa của người Pháp để phục vụ và làm cho hoàn hảo nền văn học nước nhà còn ở trong tình trạng phôi thai” [188, 119]. Mặc dù Nam Kỳ được coi là cái nôi đầu tiên của báo chí và chữ Quốc ngữ, nhưng Bắc Kỳ lại là địa hạt để báo chí trưởng thành, lớn mạnh đồng thời cũng là mảnh đất màu mỡ ươm mầm cho nền văn chương hiện đại Việt Nam. Hầu hết báo chí miền Bắc giai đoạn trước năm 1930: “Chỉ chú trọng vào vấn đề văn chương, khảo cứu lịch 9 sử, nhờ đó góp phần tích cực vào văn học” [188, 184].

Đến giai đoạn sau (1940-1945), có thể thấy mảng văn chương hoài cổ là đặc thù của báo chí miền Bắc. Bởi so với Nam Kỳ, chính quyền thực dân đã áp đặt một quy chế chính trị chặt chẽ, thu hẹp quyền tự do của nhà văn, nhà báo ở Bắc Kỳ. Cho nên, ký giả miền Bắc không được phát biểu ý kiến cởi mở như ở Nam Kỳ, họ chỉ còn một cách quay về với các di sản tinh thần trong quá khứ qua việc tìm kiếm, thu lượm, sưu tầm, giới thiệu các bài văn cổ. Đây là một điểm khả thủ để lí giải vì sao, trong sự tăng tốc của báo chí và văn học hiện đại, lại định vị một dòng riêng luôn tìm về văn hóa, văn học quá khứ.

Đồng thời, việc tìm nguồn ấy cũng chính là vùng đất sống cho các tờ báo, tạp chí sinh tồn trong thời điểm chính trị nhạy cảm như Nam phong, Thanh nghị, Tri tân… Tiếp thu ý kiến của ông Huỳnh Văn Tòng, tác giả Đỗ Quang Hưng thêm một lần nữa khẳng định về mối quan hệ mật thiết giữa báo chí với văn học, nhà báo với nhà văn: Trong cuốn Nhập môn văn học Việt Nam, M. Durand và Nguyễn Trần Huân đã nhìn nhận báo chí từ một bộ phận của tiến trình văn học và được coi là một chương của bộ sách này, với ý nghĩa như một thể loại, một động lực của văn học. Vấn đề cũng không chỉ là phương tiện. Một thời gian dài gần như tất cả các sáng tác văn học, kể cả dịch thuật đều đăng tải trên báo chí (…) Vấn đề còn là, khi văn chưa tách khỏi báo (giữa thập kỷ 30 về trước) thì phần lớn các nhà văn đều phải đi từ nghề báo [79, 234-235].

Điểm khác biệt của báo chí Việt Nam so với báo chí phương Tây là ra đời trước và tạo nên nền văn học hiện đại. Điều đó cũng lí giải vì sao nhiều tờ báo không hề có chủ trương về văn học, nghệ thuật nhưng chính những chuyên mục “ngoài lề” đó lại luôn có sức thu hút độc giả. Chẳng hạn như Gia Định báo (1865), tờ báo đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ ở Việt Nam do Soái phủ Nam Kỳ - ông Ernest Potteau khởi lập, sau đó chuyển cho Trương Vĩnh Ký đảm nhiệm vai trò chính. Đây cũng là tờ công báo của chính phủ thuộc địa, có cấu tạo gồm hai phần: Phần chính đăng các công văn, nghị định, thông tư, những tài liệu chính thức của chính phủ Pháp và những tin tức trong nước.

Phần phụ đăng những bài nghiên cứu về lịch sử, thơ, truyện cổ tích… Tuy nhiên, phần phụ lại được số đông độc giả quan tâm chú ý nhiều hơn. Mặc dù là tờ báo ra đời vì mục đích chính trị nhưng Gia Định báo lại góp phần xây dựng căn bản cho báo chí nước nhà và hướng tới mục tiêu tạo dựng một nền quốc văn độc lập. Vai trò khởi đầu của tờ báo này có ý nghĩa đặt nền móng cho báo chí và văn học nước nhà. 10 Một tờ báo lớn như Đông Dương tạp chí trong quá trình tồn tại cũng dần dần dịch chuyển và thay đổi khuynh hướng cho phù hợp với tâm lí của độc giả.

Nếu như ở giai đoạn đầu, Đông Dương tạp chí (từ số 1 đến số 85, ra ngày 15/05/1913- 31/12/1914) chủ yếu tập trung đăng tải tin tức, thời sự, mảng văn chương còn mờ nhạt thì đến giai đoạn sau (từ số 86 đến số 102, ra ngày 10/01/1915- 31/12/1916) bản báo lại chú trọng đến việc đăng tải mảng văn chương, học thuật. Đặc biệt hơn, đến Đông Dương tạp chí, văn phong tiếng Việt đã: “Bắt đầu được cấu kết có mạch lạc trôi chảy. Có thể tạm gọi là thời kỳ khởi đầu của nền văn học chữ Quốc ngữ” [188, 92]. Cũng như vậy, với các tờ báo chủ trương về kinh tế (Nông cổ mín đàm, 1901- 1924), tôn giáo (Vì chúa, ra đời 1936) thì chuyên mục: “Văn uyển (vườn văn), thậm chí trang văn học, trang tiểu thuyết (dịch, sáng tác) thường kỳ trở nên một chuyên mục câu khách” [79, 235].

Nếu báo chí Việt Nam sản sinh ra nền văn học hiện đại Việt Nam thì tương quan lại, văn học chính là điều kiện cần thiết cho vận mệnh sinh tồn của một tờ báo. Bùi Đức Tịnh khi tìm hiểu Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới (1865-1932), (2002, tái bản lần 2) cũng đã xác định báo chí như một bộ phận của nền văn học hiện đại Việt Nam. Cho nên khi nghiên cứu các thể loại văn học mới (truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ) ông rất quan tâm đến báo chí với tư cách là môi trường thúc đẩy sự sinh sôi, nảy nở của các thể loại văn học: “Sở dĩ cần quan tâm nhiều đến báo chí là vì đó là bộ môn tiền phong của nền văn học mới. Đồng thời, đó cũng là môi trường để nảy sinh và phát triển của tất cả các bộ môn khác như tiểu thuyết, thơ, văn nghị luận, phê bình…” [185, 13].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ