MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Các làng nghề của tỉnh Bến Tre được hình thành qua nhiều thế hệ mang bản sắc văn hóa truyền thống, tạo nét đặc trưng và phổ biến cho tỉnh Bến Tre như: Kẹo dừa, thạch dừa, bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc. Bên cạnh đó còn có những làng nghề mới được hình thành và phát triển như: Nghề thủ công mỹ nghệ từ cây dừa, làng nghề kềm kéo, dệt chiếu, sản xuất chỉ xơ dừa. Nằm cách thành phố Bến Tre 7km về hướng Đông là làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng thuộc xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm.
Theo người dân cư ngụ lâu năm ở địa phương, làng nghề này đã tồn tại cách nay trên dưới 100 năm. Nhiều thế hệ người Mỹ Lồng suốt một đời tận tụy tráng từng chiếc bánh tráng và truyền “bí quyết” lại cho con cháu để giữ lấy cái nghề của cha ông. Ở làng Mỹ Lồng ngày nay có nhiều gia đình có đến 2-3 thế hệ sống bằng nghề này. Những năm qua, làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, xã hội của huyện Giồng Trôm nói chung và xã Mỹ Thạnh nói riêng.
Gần đây, khi nghề sản xuất bánh tráng Mỹ Lồng được nhà nước khuyến khích, hỗ trợ vốn, số hộ tham gia sản xuất ngày càng nhiều hơn. Hiện nay, toàn xã có 157 hộ sản xuất bánh tráng, tập trung nhiều nhất ở ấp Nghĩa Huấn với hơn 100 hộ. Từ nguồn lực này, mỗi năm làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng cung cấp cho thị trường khoảng 150 triệu cái, tổng thu nhập trên 30 tỷ đồng. Làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng phát triển còn tác động tích cực đến kinh tế nông nghiệp địa phương.
Mỗi năm, làng nghề tiêu thụ khoảng 1,2 triệu trái dừa, 30 tấn đường, tạo công ăn việc làm ổn định cho gần 600 lao động, góp phần cùng địa phương xóa đói giảm nghèo. Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người trong làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng là 18 triệu đồng/người/năm. Đây là tín hiệu vui cho một làng nghề vốn còn nhiều khó khăn như làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng. Tuy nhiên, sự phát triển của sản xuất làng nghề thường gắn liền với những vấn đề môi trường.
Theo thống kê, lượng nước thải sản xuất trung bình một hộ công GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Nhật & ThS Đoàn Văn Phúc HVTH: Trần Thị Kim Hồng 3 suất nhỏ là 0,1 m3/ngày, hộ công suất vừa là 0,3 m3/ngày và hộ công suất lớn là 0,5 m3/ngày. Như vậy, hàng ngày làng nghề thải ra môi trường lượng nước thải khoảng 55 m3/ngày. Nước thải với hàm lượng chất ô nhiễm cao, vượt nhiều lần quy chuẩn cho phép. Hầu hết các cơ sở đều không có hệ thống xử lý, chỉ thu gom và sau đó thải vào các mương trong vườn nhà và chảy trực tiếp ra sông, rạch.
Quá trình sản xuất và sinh hoạt của người dân trong làng nghề đã tạo ra lượng rác thải lớn với các thành phần khác nhau. Thực tế, mặc dù xã phải cấp kinh phí để xử lý thu gom rác nhưng tình trạng ô nhiễm từ chất thải rắn (CTR) trên địa bàn làng nghề vẫn chưa được cải thiện. Ngoài ra, làng nghề còn bị cộng hưởng ô nhiễm từ hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp lân cận (Sở Công Thương Bến Tre, 2012). Từ những ý nghĩa thực tiễn của yêu cầu BVMT, tránh các tác động tiêu cực của làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng đối với môi trường, việc thực hiện đề tài “ Nghiên cứu cải thiện môi trường cho làng nghề sản xuất bánh tráng Mỹ Lồng tại xã Mỹ Thạnh huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre” hiện nay là thật sự cần thiết.
MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: - Đánh giá hiện trạng hoạt động sản xuất bánh tráng, hiện trạng môi trường tại làng nghề Mỹ Lồng, ảnh hưởng của hoạt động sản xuất đến môi trường, từ đó đề xuất giải pháp tổng thể cải thiện môi trường theo hướng ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm. Mục tiêu cụ thể: - Tìm hiểu quy trình sản xuất bánh tráng và xác định các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tại làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng; - Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề từ đó xây dựng những giải pháp cải thiện môi trường theo hướng ngăn ngừa ô nhiễm và SXSH, nhằm giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm tài nguyên và giảm thiểu ô nhiễm môi trường GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Nhật & ThS Đoàn Văn Phúc HVTH: Trần Thị Kim Hồng 4 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động sản xuất của các cơ sở sản xuất bánh tráng.
Các hộ sản xuất tại làng nghề có nhiều công suất sản xuất khác nhau, tác giả tạm chia theo 3 công suất sản xuất để nghiên cứu gồm công suất lớn, vừa và nhỏ cụ thể như sau: Công suất lớn: sản xuất khoảng 1000-2000 bánh/ngày và sản xuất quanh năm, có 24 hộ chiếm 15%; Công suất vừa: sản xuất khoảng 500-1000 bánh/ ngày vào mùa tết, ngày thường khoảng 300 bánh/ngày nhưng không thường xuyên, có 70 hộ chiếm 45%; Công suất nhỏ: sản xuất khoảng 300 -500 bánh/ngày vào mùa tết, ngày thường không sản xuất, có 63 hộ chiếm 40%. - Quy mô: lựa chọn đại diện các hộ tương ứng với 3 công suất trên để nghiên cứu. - Phạm vi nghiên cứu: Các cơ sở sản xuất bánh tráng (20/157 hộ) đại diện cho 3 công suất sản xuất tại làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng thuộc xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Nội dung nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu ba nội dung chính sau đây: Thu thập thông tin về hoạt động sản xuất và các vấn đề môi trường có liên quan đến hoạt động sản xuất bánh tráng tại làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng; Khảo sát thực tế, đánh giá hiện trạng và phân tích nguyên nhân ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản xuất bánh tráng thuộc làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng; Đề xuất giải pháp tổng hợp nhằm cải thiện môi trường theo hướng ngăn ngừa ô nhiễm và SXSH.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3. Phương pháp thu thập thông tin - Từ các nguồn tài liệu sẵn có: Thu thập thông tin liên quan qua những tài liệu khoa học đã được phát hành (lịch sử của làng nghề nông thôn nói chung; tình GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Nhật & ThS Đoàn Văn Phúc HVTH: Trần Thị Kim Hồng 5 hình phát triển làng nghề tỉnh Bến Tre; lịch sử hình thành, phát triển của làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng; vị trí địa lý….) các thông tin đã được đăng tải trên những phương tiện thông tin đại chúng và những thông tin khác liên quan đến hoạt động sản xuất bánh tráng (tình hình kinh tế, xã hội xã Mỹ Thạnh; tác động của làng nghề đến kinh tế, xã hội…) - Từ điều tra thực địa: Nghiên cứu trực tiếp tại những cơ sở sản xuất bánh tráng, xem xét hoạt động, các dây chuyền sản xuất, tìm hiểu các khâu thu gom, vận chuyển, tìm hiểu quy trình công nghệ cho các công đoạn sản xuất tại những cơ sở này. Vì thời gian thực hiện luận văn hạn chế nên tác giả sẽ chọn 20/157 hộ sản xuất bánh tráng trong làng nghề đại diện cho 3 quy mô sản xuất để khảo sát sơ bộ. Theo điều tra 20 hộ được chọn là những hộ sản xuất thường xuyên và lâu năm tại làng nghề, có tay nghề cao, nhiệt tình hợp tác với tác giả.
Phương pháp phỏng vấn Phỏng vấn 20 hộ sản xuất bánh tráng trong làng nghề bằng phiếu điều tra xã hội học có cấu trúc như trong phụ lục 2 để thu thập thông tin về hoạt động, điều kiện sản xuất và những vấn đề môi trường nảy sinh tại làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng. Phiếu điều tra chỉ thực hiện điền thông tin, phần phỏng vấn sâu (về kinh nghiệm lựa chọn nguyên nhiên liệu sản xuất, trong quá trình pha bột, tráng bánh…) do tác giả ghi chép lại. Số liệu thu thập được tổng hợp lại sau quá trình điều tra. Danh sách các hộ sản xuất khảo sát sơ bộ Công suất Quy STT Họ và tên Địa điểm sản xuất (bánh/ngày) mô 1 Huỳnh Văn Chót ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 2.000 Lớn 2 Nguyễn Thị Thanh Thúy ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 1.000 Lớn 3 Nguyễn Ngọc Mười ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 1.000 Lớn 4 Huỳnh Hữu Nghĩa ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 600 Vừa 5 Trần Hoàng Hải ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 600 Vừa GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Nhật & ThS Đoàn Văn Phúc HVTH: Trần Thị Kim Hồng 6 Công suất Quy STT Họ và tên Địa điểm sản xuất (bánh/ngày) mô 6 Phạm Ngọc Thắng ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 700 Vừa 7 Nguyễn Thị Thêm ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 700 Vừa 8 Nguyễn Thị Hồng Lan ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 600 Vừa 9 Nguyễn Thị Hòa ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 600 Vừa 10 Trần Văn Mẹo ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 600 Vừa 11 Nguyễn Thắng Tài ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 600 Vừa 12 Nguyễn Thị Bé Ba ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 800 Vừa 13 Nguyễn Thị Hồng Cát ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 600 Vừa 14 Nguyễn Hữu Nghiệp ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 500 Vừa 15 Nguyễn Thanh Tùng ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 300 Nhỏ 16 Phạm Thị Tuyết Mai ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 500 Nhỏ 17 Phạm Thị Đáo ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 500 Nhỏ 18 Nguyễn Văn Đoạn ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 300 Nhỏ 19 Đỗ Văn Rép ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 500 Nhỏ 20 Huỳnh Thị Hiếm ấp Nghĩa Huấn, xã Mỹ Thạnh 400 Nhỏ 3.
Phương pháp lựa chọn và thực hiện nghiên cứu điển hình Chọn 3 cơ sở sản xuất bánh tráng làm nghiên cứu trường hợp (case study) để tiến hành nghiên cứu, nhằm đảm bảo độ sâu của nghiên cứu, đồng thời có thể đáp ứng được hạn chế về thời gian. Các tiêu chí lựa chọn sẽ được thiết lập nhằm đảm bảo tính đại diện, khai thác yếu tố thuận lợi khi triển khai và khả năng nhân rộng kết quả nghiên cứu sau này. Có 3 cơ sở được chọn làm nghiên cứu trường hợp tương ứng với 3 công suất sản xuất trong làng nghề. Các cơ sở được lựa chọn phải đáp ứng các tiêu chí sau đây: GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Nhật & ThS Đoàn Văn Phúc HVTH: Trần Thị Kim Hồng 7 Các cơ sở được lựa chọn phải đại diện cho các trường hợp phân loại như trên; Các chủ cơ sở sẵn sàng hợp tác với tác giả; Có tiềm năng về kinh tế.
Danh sách các hộ được lựa chọn nghiên cứu Công suất Thời gian hoạt Công STT Tên hộ (bánh/ngày) động (tháng/năm) suất 1 Hộ ông Huỳnh Văn Chót 2.