đặt vấn đề thị trƣờng tiêu thụ, đổi mới công nghệ, chính sách, đào tạo nguồn lao động để làng nghề đƣợc phát triển trong điều kiện Việt Nam thực 4 hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới WTO. Nguyễn Thị Kim Ngân (2015), “Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội”, luận văn thạc sĩ. Tác giả tập trung nghiên cứu của đề tài là hƣớng tới đề xuất một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác QLNN về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Thạch Thất nhằm góp phần thúc đẩy làng nghề phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới hiện nay. Lại Thị Thúy Hằng (2017), “Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội”, luận văn thạc sĩ.
Tác giả đã đánh giá thực trạng về phát triển các làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai và kiến nghị hoàn thiện công tác QLNN về phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Phú Xuyên trong giai đoạn 2018-2020. Đánh giá chung về kết quả nghiên cứu của các công trình đã được tổng quan 1. Những vấn đề đã được nghiên cứu làm sáng tỏ Thứ nhất, cơ sở lý luận về làng nghề, LNTT ở Việt Nam và trên thế giới, chỉ rõ quan niệm, vai trò, đặc điểm và các nhân tố tác động tới sự phát triển của làng nghề trong bối cảnh nền kinh tế thị trƣờng hiện nay. Thứ hai, nghiên cứu các nội dung, vai trò của nhà nƣớc trong quản lý hoạt động của các làng nghề cụ thể, trong nhiều lĩnh vực nhƣ: chính sách, quy hoạch, tổ chức thực thi chính sách phát triển các làng nghề, hỗ trợ phát triển làng nghề…, thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề, góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội địa phƣơng, đảm bảo công tác môi trƣờng tại các làng nghề hiện nay.
Thứ ba, tìm hiểu kinh nghiệm, chỉ ra các bài học trong phát triển làng nghề và quản lý phát triển làng nghề trên thế giới cũng nhƣ tại các địa phƣơng, khu vực của Việt Nam. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Phần lớn các nghiên cứu kể trên mới chỉ tập trung làm rõ một hoặc một vài khía cạnh của QLNN cấp tỉnh đối với làng nghề, các vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu bao gồm: Thứ nhất, hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận về quản lý làng nghề trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay. Thứ hai, xây dựng cơ sở lý luận chung về quản lý làng nghề phù hợp với cá quy định của pháp luật và điều kiện kinh tế - xã hội địa phƣơng. Thứ ba, những đặc trƣng cơ bản, các nhân tố tác động, những hạn chế và nguyên nhân khi thực thi công tác quản lý đối với làng nghề, đề xuất các phƣơng hƣớng và giải pháp, kiến nghị phù hợp với tình hình thực tế của địa phƣơng nhằm hoàn thiện công tác quản lý và thúc đẩy làng nghề phát triển.
Các công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu tƣơng đối đầy đủ những khía cạnh khác nhau của làng nghề và đƣa ra những giải pháp pháp phát triển làng nghề. Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa có công trình nghiên cứu nào đi vào nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhà nƣớc về làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai. Vì thế luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế với đề tài “Quản lý làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội” 1. Cơ sở lý luận về quản lý làng nghề 1.
Khái niệm làng nghề và làng nghề truyền thống Làng nghề và làng nghề truyền thống: Quy định tại Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về Phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn. Nghề truyền thống. Nghề truyền thống là nghề đã đƣợc hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, đƣợc lƣu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Tiêu chí công nhận nghề truyền thống: Nghề đƣợc công nhận là nghề truyền thống phải đạt cả 03 tiêu chí sau: (a) Nghề đã xuất hiện tại địa phƣơng từ trên 50 6 năm và hiện đang tiếp tục phát triển tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; (c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
Làng nghề Là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tựu tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn (gồm các hoạt động: Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ; sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh; sản xuất muối; các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cƣ nông thôn). Tiêu chí công nhận làng nghề, làng có nghề: Làng nghề đƣợc công nhận phải đạt cả 03 tiêu chí sau: (a) Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động hoặc các hoạt động ngành nghề nông thôn; (b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm liên tục tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (c) Đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trƣờng làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành. Làng nghề truyền thống Là làng nghề có nghề truyền thống đƣợc hình thành từ lâu đời. Tiêu chí công nhận làng nghề: Làng nghề phải đạt tiêu chí làng nghề (Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động hoặc các hoạt động ngành nghề nông thôn; Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm liên tục tính đến thời điểm đề nghị công nhận; Đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trƣờng làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành.
Đồng thời phảicó ít nhất một nghề truyền thống ((a) Nghề đã xuất hiện tại địa phƣơng từ trên 50 năm và hiện đang tiếp tục phát triển tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; (c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề). Đặc điểm làng nghề Điều kiện sản xuất kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nông thôn và ngành nông nghiệp: Nghề thủ công truyền thống bắt đầu từ nông nghiệp và gắn liền với sự phân công lao động ở nông thôn nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự cung tự cấp của ngƣời nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và là thị trƣờng tiêu thụ rộng lớn. Lao động trong các làng nghề chủ yếu là nghề nông, các gia đình tự quản lý, phân công lao động, phân chia thời gian cho phù hợp giữa việc sản xuất nông nghiệp lúc mùa vụ với nghề thủ công lúc nông nhàn.
Về sản phẩm: Sản phẩm làng nghề nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất. Nó là các vật dụng hàng ngày, có thể là những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ, nhân văn và xã hội. Các sản phẩm của làng nghề đƣợc tạo ra với bộ óc sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo và sự tinh tế, tinh vi của ngƣời thợ hay có thể là các nghệ nhân. Chật lƣợng sản phẩm thƣờng không đồng đều do việc sản xuất không thể tạo ra nhiều sản phẩm giống nhau, chỉ là do các ngƣời thợ sản xuất và tạo nên từng sản phẩm đơn lẻ.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam không mang tính toàn cầu, chƣa đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách quốc tế hay ngƣời giàu của Việt Nam. Do đó, khó đáp ứng đƣợc các hợp đồng lớn hoặc số lƣợng mặt hàng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu ra thị trƣờng nƣớc ngoài rất ít. Kỹ thuật công nghệ: Làng nghề thƣờng sử dụng những công cụ thủ công, công nghệ mang tính cổ truyền do lịch sử để lại và do chính ngƣời lao động trong làng nghề tạo ra. Kỹ thuật đặc biệt nhất của làng nghề là những bí quyết, kinh nghiệm của ngƣời thợ đƣợc tích lũy qua nhiều thế hệ, giữ đƣợc tính chất bí truyền của nghề.
Do vẫn dùng thủ công để gia công sản phẩm là chính nên không đáp ứng đƣợc một hợp đồng lớn, và tính không ổn định do thiếu tính chuyên nghiệp khiến cho các bạn hàng rụt rè khi có quan hệ mua bán với các sản phẩm của làng nghề. 8 Tổ chức sản xuất kinh doanh: Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề hiện nay chủ yếu là hộ gia đình. Do vậy, đây đƣợc xem là mô hình sản xuất nhỏ, thƣờng chỉ sử dụng lao động gia đình, do đó ai cũng có thể tham gia. Chính mô hình nhỏ này là một bất lợi cho việc tiếp nhận công nghệ, năng lực quản lý, năng lực tài chính, năng lực sản xuất còn kém vì vậy việc tiếp nhận các đơn đặt hàng lớn thƣờng khó khăn.
Tuy nhiên nó lại là mô hình tổ chức sản xuất phù hợp nhất với cơ sở vật chất ở làng nghề hiện nay do có nhiều ƣu điểm nhƣ tranh thủ thời gian lao động, linh hoạt trong sản xuất thích ứng với cuộc sống lao động sản xuất ở vùng nông thôn. Bên cạnh các hộ sản xuất còn có các mô hình mới nhƣ hợp tác xã, các doanh nghiệp, các công ty cổ phần. Những mô hình này hoạt động theo Luật Hợp tác xã và Luật Doanh nghiệp. Các mô hình sản xuất này khá phù hợp với xu hƣớng thị trƣờng hiện nay và ngày một khẳng định đƣợc vai trò của mình trong xu thế hội nhập của các làng nghề.
Vai trò của làng nghề * Vai trò của làng nghề Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH- HĐH Phát triển làng nghề có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn.