Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục đại học, nghiên cứu khoa học và đào tạo là hai nhiệm vụ chiến lược gắn kết hữu cơ, quyết định trực tiếp đến chất lượng giảng dạy và uy tín học thuật của mỗi cơ sở đào tạo. Tại Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, quy mô đào tạo đã ghi nhận sự phát triển nhanh chóng, gia tăng từ 1.925 sinh viên trong năm học 2010 - 2011 lên 3.670 sinh viên vào năm học 2015 - 2016, đạt mức tăng trưởng gần gấp đôi sau 6 năm. Đồng thời, đội ngũ cán bộ, giảng viên và nhân viên của nhà trường tính đến năm 2016 đạt 161 người, trong đó có 87 giảng viên cơ hữu trực tiếp giảng dạy.

Sự mở rộng nhanh chóng về quy mô người học đã đặt ra thách thức lớn đối với công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học. Trong giai đoạn 2010 - 2012, số giờ nghiên cứu khoa học thực hiện của giảng viên chỉ đạt dưới 50% định mức quy định, cụ thể năm học 2010 - 2011 chỉ đạt 48,6% và năm học 2011 - 2012 đạt 49,2%. Điều này phản ánh rõ nét thực trạng quản lý còn nhiều điểm nghẽn, cơ chế tạo động lực chưa đủ mạnh và quy trình giám sát học thuật chưa được tối ưu hóa.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2010 - 2016. Từ cơ sở dữ liệu thực chứng, tác giả xây dựng hệ thống 5 biện pháp quản lý đồng bộ theo cách tiếp cận hệ thống, nhằm giải quyết triệt để tình trạng 37,8% giảng viên cơ hữu chưa hoàn thành định mức nghiên cứu vào năm học 2015 - 2016. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tối ưu hóa tỷ lệ phân bổ ngân sách khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng công bố học thuật và gắn kết nghiên cứu với bảo tồn, phát triển văn hóa nghệ thuật tại khu vực phía Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quản lý tổ chức hiện đại, trọng tâm là lý thuyết các chức năng quản lý của Henri Fayol và Stephen Robbins, bao gồm 4 mắt xích cốt lõi: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học được xác định là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đội ngũ giảng viên và nguồn lực học thuật nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục, sáng tạo tri thức và phục vụ cộng đồng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình Quản trị chất lượng tổng thể trong giáo dục đại học của các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục trong nước, kết hợp với khung tiêu chuẩn phân loại nghiên cứu của UNESCO dựa trên 4 thuộc tính cơ bản: tính sáng tạo, tính mới, sử dụng phương pháp khoa học và khả năng tạo ra tri thức mới. Các khái niệm nền tảng được định hình chặt chẽ theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Luật Giáo dục đại học năm 2012 và Điều lệ trường đại học ban hành theo Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh định mức nghĩa vụ học thuật theo Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định giảng viên phải dành ít nhất một phần ba tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học cho hoạt động nghiên cứu khoa học, với sản phẩm nghiệm thu tối thiểu là một đề tài cấp cơ sở hoặc một bài báo khoa học chuyên ngành.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học, đề tài kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính thông qua nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2010 - 2016. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được thực hiện trên mẫu khảo sát gồm 69 cán bộ quản lý và giảng viên của nhà trường. Trong đó, mẫu gồm 16 cán bộ quản lý có tham gia giảng dạy và 53 giảng viên cơ hữu, cơ cấu theo giới tính gồm 39 nữ và 30 nam. Trình độ học thuật của mẫu nghiên cứu đa dạng với 3 Phó giáo sư, 13 Tiến sĩ, 39 Thạc sĩ và 17 Cử nhân, phân bổ đều theo các nhóm thâm niên công tác từ dưới 5 năm đến trên 15 năm.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện được áp dụng nhằm đại diện đầy đủ cho các khoa chuyên môn đặc thù như Di sản văn hóa, Quản lý văn hóa nghệ thuật, Du lịch, Thông tin thư viện và Xuất bản. Song song đó, phương pháp phỏng vấn sâu được tiến hành với 3 chuyên gia quản lý chủ chốt có thâm niên công tác trên 18 năm và thâm niên quản lý trên 8 năm, bao gồm Phó Hiệu trưởng phụ trách khoa học, Phó Trưởng phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế cùng Trưởng khoa chuyên môn.

Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý bằng phần mềm IBM SPSS Statistics phiên bản 22. Tác giả sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích tần số, tính điểm trung bình và kiểm định độ lệch chuẩn. Lý do lựa chọn SPSS là nhằm lượng hóa chính xác mức độ đánh giá của giảng viên đối với các khâu trong quy trình quản lý, xác định mối tương quan giữa chính sách thi đua khen thưởng với hiệu quả thực hiện đề tài.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Dữ liệu khảo sát thực tế giai đoạn 2010 - 2016 phản ánh bức tranh đa chiều về hoạt động nghiên cứu khoa học và công tác quản lý của Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, với 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, có sự tăng trưởng vượt bậc về tổng số giờ nghiên cứu khoa học nhưng lại phân hóa sâu sắc trong đội ngũ. Sau khi nhà trường ban hành Quyết định số 49/QĐ-ĐHVHHCM và Quyết định số 50/QĐ-ĐHVHHCM vào năm 2013 nhằm siết chặt quy chế quản lý khoa học, tổng số giờ nghiên cứu của toàn trường đã tăng từ 9.943 giờ (đạt 48,6% định mức năm 2010 - 2011) lên 73.580 giờ (đạt 193,46% định mức năm 2015 - 2016). Tuy nhiên, mức vượt định mức gần 200% này chủ yếu do một nhóm nhỏ cán bộ giàu kinh nghiệm gánh vác. Trong tổng số 82 giảng viên cơ hữu tại thời điểm đánh giá, chỉ có 51 giảng viên hoàn thành và vượt định mức (chiếm 62,2%), trong khi vẫn còn tới 31 giảng viên không hoàn thành nghĩa vụ nghiên cứu khoa học (chiếm tỷ lệ 37,8%).

Thứ hai, công tác thực hiện đề tài các cấp đạt kết quả nghiệm thu khả quan nhưng vẫn tồn đọng đề tài quá hạn. Trong giai đoạn 2010 - 2016, nhà trường đã triển khai 42 đề tài cấp trường, trong đó 37 đề tài đã nghiệm thu thành công (4 đề tài xuất sắc, 33 đề tài đạt loại khá) và 5 đề tài đang thực hiện, tuy nhiên có 2 đề tài bị kéo dài quá hạn từ năm 2012 và 2013 chưa thể kết thúc. Ở cấp Bộ, trường thực hiện 16 đề tài và đã nghiệm thu 12 đề tài, đạt tỷ lệ 50% xuất sắc và 50% loại khá.

Thứ ba, hoạt động hội thảo và phát triển ấn phẩm khoa học ghi nhận bước tiến lớn về chuẩn hóa học thuật. Nhà trường đã tổ chức 16 hội thảo khoa học quy mô, gồm 2 hội thảo quốc tế hợp tác với Thái Lan và Trung Quốc, 2 hội thảo cấp quốc gia và 12 hội thảo cấp trường. Đặc biệt, Tập san Thông tin Khoa học phát hành 38 số từ năm 2000 đến 2013 đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép nâng cấp thành Tạp chí Văn hóa và Nguồn lực theo giấy phép số 474/GP-BTTT, chính thức nhận mã chuẩn quốc tế ISSN 2354-0907 vào ngày 05/09/2014.

Thứ tư, công tác biên soạn giáo trình suy giảm và tỷ lệ giải ngân tài chính thiếu ổn định. Số lượng giáo trình xuất bản sụt giảm nghiêm trọng từ 9 đầu sách năm 2009 xuống còn 0 cuốn vào năm 2012 và chỉ phục hồi nhẹ lên 2 cuốn vào năm 2016. Ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động khoa học công nghệ dao động thất thường, chiếm từ 3,0% tổng dự toán chi thường xuyên năm 2012 lên 6,5% năm 2014, rồi giảm xuống 3,6% vào năm 2016. Tình trạng chậm giải ngân kinh phí diễn ra phổ biến do vướng mắc thủ tục thanh quyết toán và tiến độ nghiệm thu đề tài.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng phân hóa năng suất khoa học và sự chậm trễ trong tiến độ đề tài bắt nguồn từ việc thiếu chế tài hành chính đủ mạnh. Nhà trường chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu khoa học với đánh giá thi đua cuối năm và xét nâng lương định kỳ. Khi quy mô sinh viên tăng gần 100%, áp lực giảng dạy đè nặng lên giảng viên, khiến thời gian dành cho nghiên cứu bị thu hẹp đáng kể.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu quản lý giáo dục đại học tại Việt Nam của Hoàng Thị Nhị Hà hay Phan Thị Tú Nga, có thể nhận thấy rào cản tài chính và thủ tục thanh quyết toán phức tạp luôn là điểm nghẽn phổ biến. Tại các cơ sở đào tạo khối ngành khoa học xã hội và nghệ thuật, sản phẩm nghiên cứu mang tính trừu tượng cao, khó định lượng thương mại hóa ngay lập tức so với khối kỹ thuật, dẫn đến tâm lý e ngại đăng ký đề tài dài hạn.

Để tối ưu hóa việc theo dõi dữ liệu, nhà trường có thể xây dựng biểu đồ đường kết hợp cột mô tả sự tương phản giữa tốc độ tăng số giờ nghiên cứu (từ 48,6% lên 193,46%) với sự sụt giảm của tỷ trọng ngân sách khoa học (giảm về 3,6%). Bên cạnh đó, bảng ma trận phân loại giảng viên theo độ tuổi và ngạch viên chức sẽ làm rõ nhóm 27 giảng viên có thâm niên dưới 5 năm cần được hỗ trợ phương pháp nghiên cứu ban đầu. Điều này khẳng định tính tất yếu phải đổi mới quy trình quản trị theo hướng tinh gọn và ứng dụng công nghệ thông tin.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng và định hướng chiến lược phát triển khoa học công nghệ của trường giai đoạn 2013 - 2020, tầm nhìn 2030, tác giả đề xuất 5 giải pháp quản lý đồng bộ:

Một là, chuẩn hóa và phổ biến nghiêm ngặt quy trình quản lý đề tài nghiên cứu 4 giai đoạn. Phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế cần ban hành sổ tay hướng dẫn chi tiết quy trình từ lập kế hoạch, phê duyệt thuyết minh, kiểm tra tiến độ định kỳ đến nghiệm thu và chuyển giao. Thời gian xét duyệt đề cương cần rút ngắn tối đa xuống dưới 30 ngày làm việc nhằm giảm 40% khối lượng thủ tục hành chính giấy tờ cho giảng viên.

Hai là, nâng cao năng lực nghiên cứu cho đội ngũ giảng viên cơ hữu và xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh. Nhà trường cần định kỳ tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng viết bài báo khoa học quốc tế, phương pháp xử lý dữ liệu định lượng cho 100% cán bộ trẻ dưới 40 tuổi trong giai đoạn 2017 - 2020. Đồng thời, thành lập từ 3 đến 5 nhóm nghiên cứu chuyên sâu liên ngành về di sản văn hóa và du lịch Nam Bộ.

Ba là, tối ưu hóa cơ chế phân bổ và giải ngân nguồn kinh phí khoa học công nghệ. Ban Giám hiệu cần duy trì tỷ trọng ngân sách dành cho khoa học công nghệ ở mức tối thiểu 6% đến 8% tổng kinh phí chi thường xuyên hàng năm. Chuyển đổi phương thức quản lý tài chính sang cơ chế khoán chi theo sản phẩm cuối cùng, bảo đảm tạm ứng kinh phí kịp thời để chấm dứt tình trạng đề tài tồn đọng 2 đến 3 năm chưa thanh quyết toán.

Bốn là, đổi mới công tác thi đua, khen thưởng và kiên quyết áp dụng chế tài xử lý vi phạm nghĩa vụ học thuật. Hội đồng Thi đua Khen thưởng phải lấy tiêu chuẩn hoàn thành định mức nghiên cứu khoa học theo Thông tư 47/2014/TT-BGDĐT làm điều kiện bắt buộc khi xét danh hiệu Chiến sĩ thi đua và xét bổ nhiệm chức danh. Đối với 37,8% giảng viên không hoàn thành nghĩa vụ năm học, cần áp dụng chế tài cắt giảm thu nhập tăng thêm hoặc chuyển đổi định mức giảng dạy tương ứng.

Năm là, xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống phần mềm quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trực tuyến. Hệ thống này cho phép số hóa toàn bộ lý lịch khoa học của 100% giảng viên, tiếp nhận hồ sơ đăng ký đề tài trực tuyến, tự động cảnh báo tiến độ và lưu trữ cơ sở dữ liệu số gồm 38 số tập san, hơn 35 đầu giáo trình và toàn bộ bài báo trên Tạp chí Văn hóa và Nguồn lực trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất là Ban Giám hiệu và các nhà hoạch định chính sách tại các trường đại học công lập, đặc biệt là các cơ sở đào tạo khối văn hóa, nghệ thuật, thể thao và du lịch. Luận văn cung cấp khung quản lý toàn diện giúp giải phóng năng lực học thuật đặc thù và xây dựng chiến lược phát triển khoa học công nghệ bền vững.

Nhóm thứ hai là lãnh đạo và chuyên viên Phòng Quản lý khoa học, Phòng Đào tạo và Phòng Hợp tác quốc tế. Các biểu mẫu khảo sát, quy trình quản trị 4 bước và phương thức giải ngân tài chính trong luận văn là tài liệu thực tiễn để chuẩn hóa quy chế nội bộ và xây dựng phần mềm quản lý khoa học.

Nhóm thứ ba là đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Giảng viên có thể tham khảo phương pháp phân bổ thời gian hợp lý giữa giảng dạy và nghiên cứu, cách thức xây dựng đề tài cấp Bộ và kinh nghiệm phát triển bài báo trên các tạp chí có chỉ số ISSN chuẩn mực.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục và Quản trị công. Công trình là một nghiên cứu trường hợp điển hình về cách thức kết hợp phương pháp khảo sát định lượng qua phần mềm SPSS với phỏng vấn sâu chuyên gia, cung cấp nguồn trích dẫn học thuật tin cậy cho các đề tài cùng lĩnh vực.

Câu hỏi thường gặp

Căn cứ pháp lý nào quy định bắt buộc giảng viên đại học phải thực hiện nghiên cứu khoa học hàng năm?

Theo Điều 7 Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giảng viên phải dành ít nhất một phần ba tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học để nghiên cứu khoa học. Giảng viên bắt buộc phải hoàn thành nhiệm vụ tương ứng với chức danh, với sản phẩm tối thiểu là một đề tài cấp cơ sở nghiệm thu đạt yêu cầu hoặc một bài báo công bố trên tạp chí khoa học có phản biện.

Tại sao số giờ nghiên cứu khoa học tại trường tăng vọt lên 193,46% trong năm học 2015 - 2016 nhưng vẫn bị đánh giá là chưa đồng đều?

Mặc dù tổng số giờ toàn trường đạt 73.580 giờ so với định mức 38.036 giờ, sự bùng nổ này chỉ tập trung ở nhóm cán bộ quản lý và giảng viên giàu kinh nghiệm. Khảo sát cho thấy có 51 giảng viên hoàn thành vượt mức nhưng vẫn còn tới 31 trên tổng số 82 giảng viên cơ hữu, chiếm 37,8%, hoàn toàn không hoàn thành định mức nghiên cứu khoa học được giao.

Tạp chí Văn hóa và Nguồn lực của nhà trường được hình thành và cấp mã chuẩn quốc tế như thế nào?

Tạp chí Văn hóa và Nguồn lực được nâng cấp từ Tập san Thông tin Khoa học vốn xuất bản 38 số từ năm 2000 đến 2013. Ngày 01/12/2013, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép hoạt động số 474/GP-BTTT, và đến ngày 05/09/2014, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia chính thức cấp mã số chuẩn quốc tế ISSN 2354-0907.

Nguyên nhân chính khiến tỷ lệ giải ngân ngân sách khoa học công nghệ của trường gặp khó khăn là gì?

Ngân sách khoa học công nghệ dao động từ 3,0% đến 6,5% chi thường xuyên nhưng khó giải ngân do thủ tục thanh quyết toán phức tạp và một số đề tài bị kéo dài tiến độ nghiệm thu. Điển hình có những đề tài cấp trường được giao kinh phí từ năm 2012 và 2013 nhưng đến năm 2015 vẫn chưa thể hoàn tất nghiệm thu để tất toán tài chính.

Biện pháp nào mang tính đột phá nhất để nâng cao hiệu quả quản lý nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học?

Biện pháp đột phá nhất là xây dựng hệ thống phần mềm quản lý nghiên cứu khoa học trực tuyến kết hợp đổi mới cơ chế tài chính sang khoán chi theo sản phẩm cuối cùng. Ứng dụng công nghệ giúp số hóa 100% quy trình từ đăng ký, duyệt đề cương đến nghiệm thu, đồng thời minh bạch hóa tiến độ và gắn trực tiếp với đánh giá thi đua hàng năm.

Kết luận

Nghiên cứu về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được 5 đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và hành lang pháp lý chuẩn mực về quản lý khoa học công nghệ trong trường đại học đặc thù văn hóa - nghệ thuật.
  • Phân tích thực chứng dữ liệu 6 năm liên tục từ 2010 đến 2016, làm rõ bước tăng trưởng giờ nghiên cứu từ 48,6% lên 193,46% nhưng đồng thời chỉ ra điểm nghẽn 37,8% giảng viên chưa đạt chuẩn.
  • Đánh giá khách quan kết quả thực hiện 42 đề tài cấp trường, 16 đề tài cấp Bộ, 16 hội thảo khoa học và quá trình phát triển Tạp chí Văn hóa và Nguồn lực đạt chuẩn ISSN 2354-0907.
  • Nhận diện chính xác các nguyên nhân cốt lõi về cơ chế thi đua, hạn chế trong giải ngân ngân sách và sự thiếu vắng công cụ quản lý số hóa.
  • Đề xuất hệ thống 5 biện pháp quản lý khả thi, giải quyết đồng bộ từ khâu chuẩn hóa quy trình, đào tạo nhân lực, khoán chi tài chính, siết chặt kỷ luật đến chuyển đổi số quản trị học thuật.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2017 đến 2020, nhà trường cần khẩn trương hoàn thiện quy chế quản lý mới, triển khai phần mềm quản lý trực tuyến và phấn đấu nâng tỷ lệ giảng viên hoàn thành nghĩa vụ nghiên cứu lên trên 95%. Các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động đổi mới cơ chế quản trị khoa học công nghệ ngay hôm nay để tạo động lực bứt phá cho chất lượng đào tạo và phát triển tri thức xã hội.