Chương 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY XAY DUNG VAN HÓA NHÀ TRƯỜNG 'Ở TRUNG TAM GIAO DUC THUONG XUYEN CAP TINH 1. Téng quan lich sir van dé nghién ciru Van hoá luôn đi liền với giáo dục, giáo dục đi liền với văn hoá. Ca hai đều là sản phẩm đặc thù của loài người, chỉ có loài người mới có.Lênin (1870-1924) đã khẳng định: giáo dục là “phạm trù vĩnh hằng” - tồn tại mãi mãi cùng loài người: thế hệ trước phải truyền cho thế hệ sau các kinh nghiệm. lịch sử - xã hội, tạo nên tiến hoá không ngừng của loài người.
Suốt chiều dài lịch sử, chân lý đó ngày càng sáng tỏ. Giáo dục được coi là nhân tố cực kỳ quan trọng quyết định sự trường tồn của quốc gia, dân t nước ta, trong Cương lĩnh Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) ghi rõ “giáo dục là quốc. sách hàng đã Từ nhiều thế kỷ trước nhà giáo dục vĩ đại của Cộng hòa Séc và của thể giới J.A Comenxki (1592-1670) khi bàn tới giáo dục ông đã hướng tới xây dựng một nền giáo dục hoàn thiện mà trước tiên là giáo dục sự công bằng cho các học sinh, biết làm điều thiện, biết chia sẻ, yêu thương và giúp đỡ mọi người biết nhường nhịn lẫn nhau, tôn trọng nhau để xây dựng mối quan hệ có văn hóa. Còn nhà giáo dục Xô viết vĩ đại A.S Macrenco (1888- 1939) khi bàn tới môi trường giáo dục trong gia đình cũng rất quan tâm tới việc giáo dục thái độ có văn hóa, hành vi có văn hóa cho các em, và chính hành vi ứng xử có văn hóa của người lớn ảnh hưởng trực tiếp tới sự hình thành nhân cách của các em.
Ông cho rằng cần tổ chức nhiều hoạt động học tập và vui chơi giải trí cho các em để tạo điều kiện cho các em hình thành thói quen, hành vỉ có văn hóa, có ý thức trách nhiệm biết yêu thương quan tâm gúp đỡ người khác. Từ đầu thập niên 1980 đến nay, ngành Văn hóa học ra đời nghiên cứu về văn hóa nói chung và các hiện tượng văn hóa riêng biệt như: văn hóa lối sống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa tôn giáo, văn hóa gia đình, văn hóa kinh tế, văn hóa chính trị, văn hóa du lịch, .Vào đầu những năm 1990 thuật ngữ “văn hoá học đường” xuất hiện ở các nước nói tiếng Anh. Một số nước như Hoa Kỳ, Úc bước đầu tìm hiểu và thành lập các trung tâm nghiên cứu vấn. Song chưa có nhiều tài liệu về chủ đề này, nhưng tắt cả các tác giả đều nhất trí rằng mỗi nhà trường cần có văn hoá học đường của mình; thực tiễn chứng minh tác dụng tích cực của văn hoá học đường, chống lại văn hoá độc hại, tiêu cực; mục tiêu chung nhất của văn hoá học đường là xây dựng.
trường học lành mạnh — co sé quan trong dé dam bao chat lượng giáo dục của. moi nhà trường. Ở nước ta, từ khi cuốn sách“Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh (1938) xuất bản đã tạo nên mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời của ngành Văn hóa học. Từ đó trở đi, việc nghiên cứu văn hóa mới thật sự được quan tâm và đào sâu thật đáng kể bởi các học giả có uy tín như: “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới” (1994) của Phan Ngọc, “Văn hóa học đại cương và Cơ sở văn hóa Việt Nam”(1996) của Trần Quốc Vượng, “Cơ.
sở văn hóa Việt Nam”(1997) của Trần Ngọc Thêm,. Điều đó đã dẫn đến việc nghiên cứu văn hóa ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ. Nhờ những kết quả nghiên cứu này mà việc giáo dục văn hóa ở nước ta mới nâng lên tầm giáo dục tự giác và mang tính khoa học. Việc xây dựng văn hóa trong các trường học đã được các nhà khoa học trong nước quan tâm, nghiên cứu nhằm tìm ra các biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường sao cho hiệu quả nhất.
Một số cuốn sách hoặc bài viết gần đây như: “Xây dựng môi trường văn hoá cơ sở” (2001) của tác giả Văn Đức Thanh[34], “Môi trưởng giáo dục” (2006) của Phạm Hồng Quang|29], “Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em” (2006) của Nguyễn Ánh Tuyết[42], “Văn hóa giao tiếp trong nhà trườn; ° (2009) của Nguyễn Thị Kim Ngân|27], “Những điều cần tránh trong ứng xứ - Đức năng thắng só” (2012) của Minh An{1],. Tat ca chi méi tap tung vio phan ly ludn chung, chi đề cập tới những khía cạnh nhất định của công tác xây dựng văn hoá học đường, môi trường văn hoá cơ sở, chưa có những giải pháp toàn diện và lâu dài cho công tác quản lý xây dựng văn hóa nhà trường. Bên cạnh đó cũng có mí số công trình nghiên cứu khoa học khác như: lện pháp xây dựng văn hóa nhà trường ở trường Cao đẳng công nghiệp Nam Định” (Lê Thị Ngoãn); “Xây dựng văn hóa học tập ở trường trung học phổ thông Ngọc Hà - Hà Giang" (Nhân Thị Nga); “Xây dựng văn hóa nhà trường ở các Trường THPT huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh” (Lưu Văn Mùi *Biện pháp quản lý việc xây dựng văn hóa học đường của Hiệu trưởng Trường trung học phổ thông Sông Công tỉnh Thái Nguyên” (Lưu Quý Đôn); *Xây dựng văn hóa chia sẻ cho học sinh Tiểu học huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang” (Nguyễn Thị Liễu),. Về tổng quan, các đề tài nghiên cứu trên cũng chưa phải là những khảo cứu chuyên sâu, chưa đề cập một cách đầy đủ và toàn diện về văn hoá nhà trường, nhất là về công tác quản lý xây dựng văn hoá nhà trường.
Đặc biệt, ở Trung tâm GDTX chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Ngành giáo dục tình Đồng Tháp trong những năm gần đây đã chú ý tới công tác xây dựng văn hóa nhà trường để góp phần xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng được nhu cầu của người học trong thời đại hiện nay. Tuy nhiên, việc chỉ đạo thực hiện và kết quả công tác xây dựng văn hóa nhà trường trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp vẫn chưa. có chiều sâu và còn hạn chế.
Thực tế, công tác quản lý Trung tâm GDTX- KTHN tỉnh Đồng Tháp của giám đốc chỉ chủ yếu mới tập trung vào quản lý chuyên môn và quản lý đội ngũ giáo viên, quản lý học viên nhằm nâng cao. chất lượng dạy và học của Trung tâm. Vì vậy, việc nghiên cứu để tài này hy vọng sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về xây dựng văn hóa nhà trường ở Trung tâm GDTX, đồng 10 thời đề xuất một số biện pháp của giám đốc trong công tác quản lý xây dựng văn hóa nhà trường góp phần xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tích cực, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học viên. lệm cơ bản của đề tài 1.
Khái niệm quản lý, chức năng quản lý, quản lý nhà trường Lịch sử đã chỉ ra trong quá trình tổn tại, phát triển của nhân loại xuất hiện nhu cầu liên kết giữa các cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau, trong đó có sự hợp tác, phân công lao động và một hoạt động phổ biến diễn ra trên các lĩnh vực xã hội, ngày nay gọi là hoạt động “quản lý”, quản lý là dạng thức hoạt động đã, đang và sẽ đồng hành cùng với loài người. Xã hội phát triển càng cao thì yêu cầu và đòi hỏi về lao động quản lý càng đa dạng, phong phú.Mác, hoạt động quản lý là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lao động xã hội. Ông viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiễn hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đêu cần đến một sự chỉ đạo để điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điểu khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trướng ° |6].
Có khá nhiều khái niệm đề cập đến thuật ngữ quản lý. Các tác giả phương Tây như Frederich Wiliam Taylor (1856 - 1915); Henry Fayol (1841 — 1925); Max Weber (1864 - 1920) tuy có các quan điểm không đồng nhất song trên cơ bản đều cho rằng quản lý là một lao động khoa học và cần thiết nhằm thúc đây sự phát triển của xã hội, quản lý tốt giúp tiết kiệm chỉ phí sản xuất và tăng hiệu quả, kết quả của quá trình sản xuất. Theo Dai tir dién tiếng Vi 'Quán lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một tổ chức ”(47. 1 Theo tác giả Bùi Minh Hiền: “Quán lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra ®17,tr 12].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý là sự tác động cóý thứ chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan ” 45, tr 40]. Các tác giả khác như Vũ Ngọc Hải, Trần Kiểm. khi bàn về quản lý đã chỉ ra các thành tổ của nó, đó là: - Quản lý là sự tác động có tô chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. - Quản lý là một hoạt động khoa học và nghệ thuật, tác động lên các thành tố của hệ thống bằng những phương pháp phù hợp.
~ Mục tiêu của quản lý là nhằm đưa hệ thống đạt đến mục tiêu phát triển cao hơn. Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chú thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức. vận hành và đạt được mục đích của tổ chức (43, tr 326]. Quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc và các phương pháp cụ thê nhằm thực hiện các mục.
Trong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách. kế hoạch; tổ chức thực hiện, điều chỉnh các hoạt các mục tiêu đề ra. Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý.