Nghiên Cứu Chuyển Biến Kinh Tế - Xã Hội Của Người Cơ Ho Srê Ở Tỉnh Lâm Đồng Từ Năm 1975 Đến Năm 2015

Luận án tiến sĩ phân tích chuyển biến kinh tế xã hội của người Cơ Ho Sre ở Lâm Đồng giai đoạn 1975-2015, nêu bật những thay đổi quan trọng.

Trường đại học

Trường Đại Học Đà Lạt

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

276
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ÐOAN

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.2.1. Các công trình nghiên cứu về DTTS có đề cập ngƣời Cơ ho Srê trƣớc năm 1975

0.2.2. Các công trình nghiên cứu sau năm 1975

0.2.3. Những vấn đề đã đƣợc nghiên cứu

0.2.4. Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3.1. Mục đích nghiên cứu

0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

0.4.1. Đối tƣợng nghiên cứu

0.4.2. Phạm vi nghiên cứu

0.5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

0.6. Phƣơng pháp nghiên cứu

0.6.1. Phƣơng pháp luận

0.6.2. Phƣơng pháp nghiên cứu chuyên ngành

0.6.3. Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể

0.7. Ðóng góp mới của luận án

0.8. Bố cục của luận án

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NHÓM TỘC NGƢỜI CƠ HO SRÊ Ở LÂM ĐỒNG

1.1. Một số vấn đề về lý thuyết

1.1.1. Các khái niệm đƣợc dùng trong luận án

1.1.2. Các cơ sở lý thuyết của luận án

1.2. Tổng quan về địa bàn và ngƣời Cơ ho Srê ở tỉnh Lâm Đồng

1.2.1. Tổng quan về tỉnh Lâm Đồng

1.2.2. Tổng quan về ngƣời Cơ ho và nhóm ngƣời Cơ ho Srê

1.3. Tiểu kết chƣơng 1

2. KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGƢỜI CƠ HO SRÊ Ở LÂM ĐỒNG TỪ 1975 – 1986

2.1. Hoàn cảnh lịch sử

2.1.1. Việt Nam từ 1975 - 1986

2.1.2. Lâm Đồng từ 1975 - 1986

2.2. Kinh tế ngƣời Cơ ho Srê ở Lâm Đồng từ 1975 - 1986

2.2.1. Nghề thủ công (lơh mơ tê)

2.2.2. Hoạt động trao đổi, mua bán

2.3. Tổ chức xã hội ngƣời Cơ ho Srê ở Lâm Đồng từ 1975 - 1986

2.4. Tiểu kết chƣơng 2

3. KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGƢỜI CƠ HO SRÊ Ở LÂM ĐỒNG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015

3.1. Hoàn cảnh lịch sử

3.1.1. Tình hình Việt Nam từ 1986 - 2015

3.1.2. Lâm Đồng từ 1986 - 2015

3.2. Kinh tế ngƣời Cơ ho Srê ở Lâm Đồng từ 1986 - 2015

3.2.1. Nghề thủ công (lơh mơ tê)

3.2.2. Hoạt động trao đổi mua bán (kắ vro), dịch vụ

3.2.3. Các hình thức sinh kế khác

3.3. Tổ chức xã hội của ngƣời Cơ ho Srê ở Lâm Đồng từ 1986 - 2015

3.4. Tiểu kết chƣơng 3

4. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI BỀN VỮNG TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI CƠ HO SRÊ Ở LÂM ĐỒNG

4.1. Nhận xét về chuyển biến kinh tế, xã hội ngƣời Cơ ho Srê ở Lâm Đồng từ 1975 - 2015

4.1.1. Thành tựu và nguyên nhân

4.1.2. Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân

4.2. Một số kinh nghiệm

4.3. Giải pháp phát triển bền vững kinh tế, xã hội ngƣời Cơ ho Srê ở Lâm Đồng

4.4. Tiểu kết chƣơng 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Phiếu trƣng cầu ý kiến ngƣời Cơ ho Srê

Phụ lục 2. Kết quả xử lý phiếu trƣng cầu ý kiến bằng SPSS

Phụ lục 3. Danh sách phỏng vấn sâu

Phụ lục 4. Bản đồ, hình ảnh

Tóm tắt

I. Chuyển Biến Kinh Tế Của Người Cơ Ho Srê Tại Lâm Đồng 1975 1986

Giai đoạn từ 1975 đến 1986 chứng kiến những chuyển biến kinh tế quan trọng của người Cơ Ho Srê tại tỉnh Lâm Đồng. Sau khi thống nhất đất nước, chính sách phát triển kinh tế mới đã được áp dụng, tạo điều kiện cho người Cơ Ho Srê tiếp cận với các nguồn lực và cơ hội mới. Nền kinh tế truyền thống chủ yếu dựa vào trồng lúa nướccanh tác nương rẫy đã bắt đầu có sự thay đổi. Người Cơ Ho Srê đã dần chuyển sang trồng các loại cây công nghiệp và hoa màu, từ đó tạo ra nguồn thu nhập ổn định hơn. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ gia đình tham gia vào sản xuất hàng hóa đã tăng lên đáng kể. Một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến sự chuyển biến này là sự hỗ trợ từ các chính sách của Đảng và Nhà nước, như chương trình định canh định cư và phát triển nông thôn. Những chính sách này không chỉ giúp cải thiện đời sống kinh tế mà còn tạo ra sự thay đổi trong tổ chức xã hội của người Cơ Ho Srê. Họ đã hình thành các hợp tác xã và tổ chức sản xuất, từ đó nâng cao khả năng tự quản lý và phát triển kinh tế bền vững.

1.1. Hoàn Cảnh Lịch Sử

Giai đoạn 1975-1986 là thời kỳ đầy biến động trong lịch sử Việt Nam. Sau khi đất nước thống nhất, chính quyền mới đã thực hiện nhiều chính sách nhằm phát triển kinh tế và xã hội. Tại Lâm Đồng, người Cơ Ho Srê đã phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thích ứng với môi trường mới. Sự chuyển biến từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa đã tạo ra những cơ hội và thách thức mới. Người Cơ Ho Srê đã phải thay đổi cách thức sản xuất và tổ chức xã hội để phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới. Những chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước đã tạo ra động lực cho người Cơ Ho Srê trong việc cải thiện đời sống và phát triển kinh tế.

II. Chuyển Biến Kinh Tế Của Người Cơ Ho Srê Tại Lâm Đồng 1986 2015

Từ năm 1986 đến 2015, người Cơ Ho Srê tại Lâm Đồng đã trải qua những chuyển biến kinh tế mạnh mẽ hơn nữa. Đặc biệt, chính sách Đổi mới đã mở ra nhiều cơ hội cho người dân tộc thiểu số trong việc phát triển kinh tế. Người Cơ Ho Srê đã chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, với sự gia tăng đáng kể trong việc trồng các loại cây công nghiệp như cà phê, tiêu và các loại hoa màu khác. Sự thay đổi này không chỉ giúp cải thiện thu nhập mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Theo thống kê, tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập ổn định đã tăng lên rõ rệt. Bên cạnh đó, sự phát triển của các hợp tác xã và tổ chức sản xuất đã giúp người Cơ Ho Srê có cơ hội tiếp cận với thị trường và công nghệ mới. Những thay đổi này đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

2.1. Hoàn Cảnh Lịch Sử

Giai đoạn 1986-2015 là thời kỳ mà Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới, mở cửa và hội nhập kinh tế. Tại Lâm Đồng, người Cơ Ho Srê đã có những bước tiến lớn trong việc cải thiện đời sống kinh tế. Chính sách khuyến khích sản xuất hàng hóa và phát triển nông thôn đã tạo ra nhiều cơ hội cho người dân. Họ đã tích cực tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế, từ đó nâng cao khả năng tự chủ và phát triển bền vững. Sự thay đổi trong tư duy sản xuất và tổ chức xã hội đã giúp người Cơ Ho Srê thích ứng tốt hơn với những biến động của thị trường.

III. Tổ Chức Xã Hội Của Người Cơ Ho Srê Tại Lâm Đồng

Tổ chức xã hội của người Cơ Ho Srê tại Lâm Đồng đã có những biến đổi xã hội đáng kể từ năm 1975 đến 2015. Trước đây, tổ chức xã hội của họ chủ yếu dựa vào các đại gia đình mẫu hệ và các dòng họ. Tuy nhiên, với sự thay đổi trong kinh tế và chính sách quản lý, tổ chức xã hội đã dần chuyển sang mô hình gia đình nhỏ hơn, với vai trò của người chồng ngày càng tăng. Các dòng họ vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nhưng sự tự quản của các bản đã giảm đi. Những thay đổi này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong cấu trúc gia đình mà còn cho thấy sự thích ứng của người Cơ Ho Srê với môi trường xã hội mới. Sự chuyển biến này đã tạo ra những cơ hội mới cho người Cơ Ho Srê trong việc xây dựng cộng đồng và phát triển kinh tế.

3.1. Tổ Chức Xã Hội Truyền Thống

Tổ chức xã hội truyền thống của người Cơ Ho Srê rất chặt chẽ, bao gồm các bản (làng), dòng họgia đình. Mỗi bản có một hệ thống tự quản, với người đứng đầu là chủ làng, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự và văn hóa của cộng đồng. Dòng họ cũng có vai trò quan trọng trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hôn nhân và tài sản. Tuy nhiên, với sự thay đổi trong kinh tế và chính sách, tổ chức xã hội đã có những biến đổi đáng kể. Các bản không còn giữ vai trò tự quản mạnh mẽ như trước, và sự thay đổi trong cấu trúc gia đình đã dẫn đến những thay đổi trong cách thức tổ chức xã hội.

IV. Đánh Giá Và Giải Pháp Phát Triển Bền Vững

Đánh giá tổng thể về chuyển biến kinh tếxã hội của người Cơ Ho Srê tại Lâm Đồng từ 1975 đến 2015 cho thấy nhiều thành tựu đáng kể, nhưng cũng tồn tại không ít thách thức. Những thành tựu này bao gồm sự gia tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống và sự phát triển của các tổ chức xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, như sự chênh lệch trong phát triển giữa các vùng, và sự bảo tồn văn hóa truyền thống. Để phát triển bền vững, cần có những giải pháp cụ thể như tăng cường giáo dục, hỗ trợ phát triển kinh tế cho các hộ gia đình nghèo, và bảo tồn văn hóa của người Cơ Ho Srê. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện đời sống mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

4.1. Thành Tựu Và Nguyên Nhân

Thành tựu trong chuyển biến kinh tếxã hội của người Cơ Ho Srê có thể được nhìn nhận qua nhiều khía cạnh. Sự gia tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống là những thành tựu nổi bật. Nguyên nhân chính của những thành tựu này là nhờ vào sự hỗ trợ từ các chính sách của Đảng và Nhà nước, cùng với nỗ lực của chính người Cơ Ho Srê trong việc áp dụng các phương thức sản xuất mới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại cần được giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, do Tổng cục Thống kê Việt Nam ban hành ngày 02/3/1979, ngƣời Cơ ho thuộc ngữ hệ Môn - Khơ me ở Việt Nam. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, ngƣời Cơ ho ở Việt Nam có dân số 200.800 ngƣời, xếp thứ 16 trong 54 dân tộc, cƣ trú tại nhiều tỉnh thành, trong đó tỉnh Lâm Đồng là nơi tập trung đông ngƣời Cơ ho sinh sống nhất (175.531 ngƣời), tiếp đến là các tỉnh Bình Thuận (13.724 ngƣời), Ninh Thuận (3. Tại Lâm Đồng, ngƣời Cơ ho có dân số đứng thứ hai toàn tỉnh (sau ngƣời Kinh), sống tập trung chủ yếu tại các huyện Di Linh, Lạc Dƣơng, Lâm Hà, Đơn Dƣơng, Đức Trọng, Bảo Lâm.

Ngƣời Cơ ho bao gồm nhiều nhóm địa phƣơng: Cơ ho Srê, Cơ ho Nộp, Cơ ho Chil, Cơ ho Lạch, Cơ ho T’ring, trong đó, nhóm Cơ ho Srê chiếm số lƣợng đông nhất (năm 2019 là 103.682 ngƣời), địa bàn sinh sống của họ tập trung tại các huyện Di Linh, Bảo Lâm, Lâm Hà, Đơn Dƣơng, Đức Trọng. Di Linh là nơi có đông ngƣời Cơ ho Srê nhất. Sau năm 1975, thực hiện chính sách xây dựng vùng kinh tế mới, luồng cƣ dân từ các tỉnh miền Trung và miền Bắc di cƣ vào Lâm Đồng với quy mô lớn, ngoài ra các luồng di cƣ tự do cũng chiếm tỷ lệ cao. Cùng với đó, trong hơn 40 năm qua, với mục tiêu xây dựng cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên đoàn kết, ổn định và phát triển bền vững, trong đó tập trung vào việc ổn định đời sống, tạo sinh kế lâu dài và bền vững cho ngƣời dân tộc thiểu số.

Đảng và Nhà nƣớc đã có nhiều chủ trƣơng, chính sách đối với ngƣời dân tộc thiểu số nói chung và ngƣời dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng nói riêng: chƣơng trình định canh, định cƣ, chƣơng trình thành lập các nông, lâm trƣờng quốc doanh, xây dựng kinh tế với mô hình tập đoàn sản xuất, chƣơng trình xóa đói giảm nghèo, chƣơng trình xây dựng nông thôn mới, các dự án trồng rừng và bảo vệ rừng. và nhiều chƣơng trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội khác. Điều đó, đã tác động mạnh mẽ đến kinh tế, xã hội của các tộc ngƣời thiểu số tại địa phƣơng nói chung và ngƣời Cơ ho Srê nói riêng. Ngƣời Cơ ho Srê là nhóm luan an tien si 2 địa phƣơng tận dụng thành công nhất các chính sách để phát triển kinh tế, xã hội và ổn định đời sống.

Nền kinh tế và tổ chức xã hội truyền thống của họ có những chuyển biến quan trọng. Đó là sự thay đổi mạnh mẽ về không gian sống, thiết chế cộng đồng, dòng họ, gia đình, hoạt động kinh tế, giao lƣu tiếp biến văn hóa và vị thế chính trị của ngƣời Cơ ho Srê. Tất cả những chuyển biến trong kinh tế, xã hội của ngƣời Cơ ho Srê cần đƣợc nghiên cứu và đánh giá một cách có hệ thống dƣới góc độ khoa học. Về mặt khoa học, việc nghiên cứu chuyển biến kinh tế, xã hội về ngƣời Cơ ho nói chung và nhóm Cơ ho Srê nói riêng ở Lâm Đồng đã đƣợc nhiều học giả trong và ngoài nƣớc quan tâm.

Tuy nhiên, các công trình tập trung nghiên cứu về kinh tế, xã hội của tộc ngƣời này chủ yếu dƣới góc độ Dân tộc học/ Nhân học. Đến nay, chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện chuyển biến kinh tế, xã hội của ngƣời Cơ ho Srê từ năm 1975 đến năm 2015 dƣới góc độ lịch sử. Việc nghiên cứu bức tranh toàn cảnh về kinh tế, xã hội của ngƣời Cơ ho Srê ở Lâm Đồng giai đoạn 1975 - 2015 sẽ góp thêm những tƣ liệu lịch sử về ngƣời Cơ ho Srê nói riêng cũng nhƣ ngƣời Cơ ho ở Lâm Đồng nói chung. Đồng thời, trên quy luật chuyển biến kinh tế, xã hội của ngƣời Cơ ho Srê trong 40 năm qua, sẽ có nhận định, đánh giá hợp lý và đúc kết những kinh nghiệm không chỉ có giá trị trong xây dựng cộng đồng ngƣời Cơ ho Srê ổn định và phát triển, mà còn có ý nghĩa đối với các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng, rộng hơn là các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Vì thế, với cái nhìn toàn diện, đề tài này sẽ làm rõ thực trạng chuyển biến kinh tế, xã hội của ngƣời Cơ ho Srê ở tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 1975 - 2015; các nhân tố tác động đến sự chuyển biến kinh tế, xã hội. Đồng thời, đề tài có những đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm để từ đó đƣa ra các giải pháp nhƣ là những gợi ý khoa học giúp các nhà quản lý đƣa ra những chủ trƣơng phù hợp, khả thi, phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vững ở ngƣời Cơ ho Srê sinh sống nói riêng và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung. Đó chính là vấn đề có tính cấp thiết mà đề tài quan tâm hƣớng đến. luan an tien si 3 Từ các lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Những chuyển biến kinh tế, xã hội của người Cơ ho Srê ở tỉnh Lâm Đồng từ năm 1975 đến năm 2015” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2.1 Các công trình nghiên cứu về DTTS có đề cập ngƣời Cơ ho Srê trƣớc năm 1975 Đầu thế kỷ XIX, trong bộ Đại Nam nhất thống chí có ghi chép về các DTTS sống ở miền núi huyện Tuy Phong (tƣơng đƣơng với huyện Tuy Phong và Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận hiện nay - TG), với tên gọi chung là Man hoang (Mọi), trong đó khái quát các DTTS phía Tây Bắc của huyện (vùng Đức Trọng, Di Linh, tỉnh Lâm Đồng hiện nay - TG) nhƣ đi 16 ngày mới đến, có sông Dã Dƣơng (Đạ Dâng - TG), ngƣời Man có đóng thuế và thỉnh thoảng đi lại buôn bán (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006, tr. Tác phẩm Les Jungles Moi được Henri Maitre công bố tại Paris năm 1912 đã dịch sang tiếng Việt với tựa đề Rừng người Thượng và đƣợc Viện Viễn Đông Bác cổ, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và NXB Tri thức hợp tác xuất bản, đã phác thảo một cách cơ bản lƣợc sử Tây Nguyên, đề cập nhiều tộc ngƣời trong đó có Cơ ho (Maitre, H. Jacques Dournes có thời gian khá lâu sống ở Di Linh (từ 1947 - 1954) nên những hiểu biết của ông về nhóm Cơ ho Srê là hết sức tin cậy, Dicsionaire Srê (Köho) - Francais (Từ điển Srê (Cơ ho) - Pháp) bản tiếng Pháp, đƣợc hoàn thành năm 1949, xuất bản năm 1950, đề cập lịch sử tộc ngƣời, ngôn ngữ, kinh tế (Dournes J. Miền đất huyền ảo - Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương (1950), Nguyên Ngọc dịch và xuất bản năm 2003 (bản tiếng Pháp Les pooulations montagnardes de Sud - Indochinois, Saigon, 1950, France Asie, No 45 - 50) đề cập nhiều nội dung liên quan đến đời sống kinh tế và tổ chức xã hội truyền thống của ngƣời Cơ ho chủ yếu tập trung vào nhóm Cơ ho Srê ở Di Linh (Dournes, J.

Sau đó, năm 1953 ông cùng Bouchet G. hiệu đính và bổ sung Từ điển Srê – Pháp, trong Lexique polyglotte Viêtnamien - Köho - Röglay - Francais, (tiếng Pháp) xuất luan an tien si 4 bản tại Sài Gòn, trình bày kỹ hơn một số vấn đề của văn hóa Cơ ho Srê (Bouchet,G. Có thể nói, Jacques Dournes là ngƣời có công đầu đối với việc nghiên cứu về tộc ngƣời Cơ ho, tập trung nhất là nhóm Cơ ho Srê. Sau 1954, khi Nhóm Cố vấn về Việt Nam của Đại học Michigan Hoa Kỳ và Chi vụ An ninh công cộng phái bộ viện trợ kinh tế Hoa Kỳ tại Việt Nam, làm thẻ căn cƣớc cho ngƣời từ 18 tuổi trở lên ở Việt Nam, đòi hỏi phải nghiên cứu về tên họ ngƣời Thƣợng ở Tây Nguyên.

Tác phẩm A Study of Montagnard Names in Vietnam (1962) của E. Adkins ra đời trong bối cảnh đó, và nó đề cập đến nhiều tộc ngƣời Tây Nguyên, trong đó có ngƣời Cơ ho (Adkins, E. Năm 1964, để phục vụ cho công cuộc can thiệp vào miền Nam Việt Nam của ngƣời Mỹ, trƣờng Chiến tranh đặc biệt của quân đội Mỹ (Army Special Warfare School (U.) xuất bản tác phẩm Montagnard Tribal Groups of the Republic of South Viet-Nam (Các nhóm ngƣời Thƣợng của Cộng hòa Nam Việt Nam), đã dành chƣơng 8 (The Koho tribe), trình bày ngắn gọn về địa bàn cƣ trú, lịch sử, kinh tế, xã hội, tập tục của ngƣời Cơ ho (Army Special Warfare School (U. Trong Minority Groups in The Republic of Vietnam (Các nhóm thiểu số ở Việt Nam Cộng hòa) với một chƣơng gần 50 trang (từ tr.435) miêu tả về sinh hoạt kinh tế, tổ chức xã hội, đời sống văn hóa truyền thống của ngƣời Cơ ho tập trung nhiều vào Cơ ho Srê.

Phần lớn tƣ liệu trình bày đƣợc dựa vào nguồn tƣ liệu của các nhà nghiên cứu ngƣời Pháp trƣớc đó (American University (Washington, D. Nhà nhân học ngƣời Mỹ Gerald C.Hickey trong The highland people of South Vietnam: social and economic development (1967) (Các cƣ dân miền núi ở miền Nam Việt Nam: sự phát triển kinh tế và xã hội) đã đề cập đến nhóm Cơ ho Srê trong bối cảnh chung của các dân tộc Tây Nguyên (Hickey, C. Trƣớc 1975, các học giả miền Nam cũng nghiên cứu các DTTS Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng, trong tác phẩm Địa phương chí hai khu vực Bảo Lộc và Di Linh (1968), Ngô Tằng Giao có đề cập đến các “sắc dân Thƣợng” tại Lâm Đồng (gồm 2 quận Di Linh và Bảo Lộc), trong đó ông có đề cập đến dân số, luan an tien si 5 phong tục (chủ yếu là hôn nhân) của ngƣời Cơ ho (thực chất là nhóm Srê) ở Di Linh (Ngô Tằng Giao, 1968). Ngoài ra, có các công trình khảo cứu về Tây Nguyên trong đó có giới thiệu về ngƣời Cơ ho Srê nhƣ: Các sắc tộc thiểu số tại Việt Nam (1970); Nguyễn Trắc Dĩ với Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam (nguồn gốc và phong tục) (1973); Cửu Long Giang - Toan Ánh, Cao Nguyên miền Thượng (1974).

tất cả đƣợc xuất bản tại Sài Gòn. Trƣớc năm 1975, ở phía Bắc các nhà khoa học cũng có một số công trình nghiên cứu về ngƣời DTTS trong đó có ngƣời Cơ ho, nhƣng còn khá sơ sài: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (1959) của các tác giả Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Mạc Đƣờng, Bước đầu tìm hiểu các dân tộc thiểu số Việt Nam trong sự nghiệp giữ nước (1973) của Lã Văn Lô.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên Cứu Chuyển Biến Kinh Tế - Xã Hội Của Người Cơ Ho Srê Ở Tỉnh Lâm Đồng Từ Năm 1975 Đến Năm 2015" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự thay đổi trong đời sống kinh tế và xã hội của cộng đồng người Cơ Ho Srê tại Lâm Đồng trong khoảng thời gian 40 năm. Nghiên cứu này không chỉ nêu bật những thách thức mà người dân phải đối mặt, mà còn chỉ ra những cơ hội phát triển và sự chuyển mình của họ trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà các yếu tố văn hóa, chính sách và kinh tế đã ảnh hưởng đến cuộc sống của người Cơ Ho Srê, từ đó có thể rút ra bài học cho các cộng đồng khác.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh liên quan đến quản lý giáo dục và phát triển xã hội, hãy tham khảo bài viết Nghiên cứu về văn hóa thẩm mỹ trong nhà trường quân đội hiện nay, nơi khám phá vai trò của văn hóa trong giáo dục. Bên cạnh đó, bài viết Quá trình di dân tự do của các dân tộc thiểu số phía Bắc đến Lâm Đồng (1976-2015) cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về sự di chuyển và thay đổi của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại khu vực này. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến việc làm tại Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa chuyển dịch kinh tế và cơ hội việc làm, một vấn đề quan trọng trong bối cảnh phát triển xã hội hiện nay.