phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 10 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO 1. Vùng đồng bào công giáo và phát triển kinh tế vùng đồng bào công giáo 1. Quan niệm về vùng đồng bào công giáo VĐBCG là một bộ phận thuộc cấp phân vị của lãnh thổ quốc gia có địa giới hành chính xác định (xã, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh), là nơi có người theo đạo thiên chúa sinh sống.
Với quan niệm đó, VĐBCG ở Việt Nam là một khái niệm tương đối, mang tính không thuần nhất về dân cư, tín ngưỡng tôn giáo, mà có sự sinh sống đan xen nhau giữa các dân tộc, các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, hoặc không theo tôn giáo nào. Từ đặc điểm đó, đặt quá trình phát triển kinh tế VĐBCG trong mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với quá trình phát triển KT-XH nói chung, nội hàm của nó bao gồm: Một là, đồng bào công giáo ở Việt Nam đa số là nông dân lao động, trong đó chủ yếu là nông dân, có tinh thần yêu nước. Đồng thời họ cũng có niềm tin tôn giáo sâu sắc và có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo bình thường. Cho nên đồng bào công giáo ở Việt Nam vừa gắn bó với dân tộc, đất nước, đi theo sự lãnh đạo của Đảng và đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của toàn dân, vừa duy trì các sinh hoạt tôn giáo, gắn bó với giáo hội theo phương châm “tốt đời, đẹp đạo”.
Tuy nhiên, đời sống dân sinh, trình độ dân trí ở một số VĐBCG còn thấp so với mặt bằng chung của xã hội. Cùng với những quan hệ nội bộ, công giáo ở Việt Nam còn có mối quan hệ quốc tế rộng rãi. Giáo hội công giáo Việt Nam, trong mối quan hệ về mặt tổ chức là bộ phận của Giáo hội công giáo hoàn vũ do Giáo triều Vatican lãnh đạo điều hành. Các hệ phái Tin lành ở Việt Nam có mối quan hệ với các tổ chức Luan van 11 Tin lành quốc tế và trong khu vực, vừa có quan hệ về mặt tổ chức theo hệ thống, vừa có mối quan hệ đồng đạo theo xu hướng “đại kết” Ki-tô giáo.
Với đặc điểm này, công tác tôn giáo vừa phải phát huy mặt tích cực trong tín đồ các tôn giáo tham gia công tác xã hội, phát triển kinh tế., vừa phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các tín đồ; đồng thời nâng cao đời sống dân sinh, trình độ dân trí cho quần chúng và xoá đi những mặc cảm với cách mạng do lịch sử để lại. Hai là, với tư cách là một công dân, tất cả đồng bào công giáo sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đều là công dân Việt Nam, do đó họ phải có nghĩa vụ chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những quy định của chính quyền các cấp, thực hiện “sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, họ có quyền tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, nhưng các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải trong phạm vi, khuôn khổ của pháp luật cho phép và không làm điều gì tổn hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến lợi ích, chủ quyền quốc gia dân tộc. Mặt khác, với tư cách là một giáo dân, mỗi người còn là một “con chiên” của Chúa, do đó, mọi sinh hoạt, hoạt động của họ luôn bị sự chi phối, ràng buộc bởi những những quy định của giáo lý, giáo luật, giáo quyền.
của nhà thờ Thiên chúa giáo. Nói cách khác, họ đồng thời là một công dân, đồng thời là một giáo dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Chúng ta cần thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Luan van 12 Ba là, ở những nơi có đồng bào công giáo sinh sống, cộng đồng giáo dân vừa tham gia các thiết chế văn hóa – xã hội chung trên địa bàn như các sinh hoạt văn hóa, quan hệ văn hoá, hoạt động văn hóa ở địa phương, gắn với phong tục, tập quán, truyền thống của mỗi vùng, miền, dân tộc. Điều đó cũng có nghĩa, mỗi giáo dân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ tham gia bảo vệ, gìn giữ và xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ, gìn giữ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ngoài ra, cộng đồng giáo dân còn tham gia thiết chế văn hóa - tôn giáo riêng với tư cách là một giáo dân thông qua các lễ nghi, thiết chế tôn giáo như sinh hoạt tôn giáo, cầu nguyện, rửa tội ở nhà thờ, nơi thờ tự của gia đình, dòng họ. Bốn là, các hoạt động KT-XH trên địa bàn có đồng bào công giáo sinh sống được thực hiện dưới sự quản lý, tổ chức, điều hành thống nhất của cấp ủy, chính quyền và các cơ quan chức năng, trực tiếp là các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương.
Mọi giáo dân đều phải có nghĩa vụ, trách nhiệm tham gia phát triển KT-XH trên địa bàn góp phần ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi gia đình, dòng họ. với tư cách là một công dân. Ngoài ra họ còn có những hoạt động đơn thuần về tôn giáo như hành lễ, tổ chức lễ hội, truyền giảng, xưng tội, đi nhà thờ. dưới sự tổ chức, điều hành của linh mục, chánh sứ và các chức sắc, chức việc tôn giáo khác.
Việc đào tạo, thụ phong linh mục, chánh sứ và các chức sắc, chức việc tôn giáo khác vừa phải chịu sự quản lý của Nhà nước, vừa phù hợp với những quy định chung của nhà thờ Thiên chúa giáo. Chức sắc, chức việc đang hoạt động trong các tổ chức giáo hội là người hướng dẫn quản lý sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của tín đồ và là đầu mối để Nhà nước thực hiện việc quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Luan van 13 Năm là, mọi hoạt động VĐBCG luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà thường xuyên, trực tiếp là cấp ủy, chính quyền địa phương. Điều đó có nghĩa, đồng bào có đạo nói chung, công giáo nói riêng dù có đời sống tinh thần riêng, có tổ chức riêng.
Nhưng các tổ chức công giáo chỉ thực hiện chức năng quản lý tín đồ về mặt niềm tin, về linh hồn, chứ không có và không thể có chức năng quản lý nhà nước. Mặt khác, ngay cả tổ chức công giáo như giáo hội, tòa thành, linh mục. cũng phải đặt dưới sự quản lý, điều hành của Nhà nước, hoạt động trong những phạm vi mà pháp luật không cấm. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị tôn giáo, nhưng đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để có những hoạt động chống lại Nhà nước, đe dọa làm mất ổn định tình hình KT-XH của đất nước.
Vì thế, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nước ta hiện nay có hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo, phân bổ ở mọi vùng, miền, địa phương trong cả nước. Vì vậy, công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhiều cấp, nhiều ngành. Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo là lực lượng tham mưu nòng cốt.
Vì thế, tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo cần được củng cố, kiện toàn cả về số lượng và chất lượng, nhất là ở những địa bàn trọng điểm có đông đồng bào tôn giáo. Mọi giáo dân phải thực hiện đúng chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, chấp hành nghiêm pháp luật; đồng thời thực hiện đoàn kết với cộng đồng dân cư trên địa bàn không phân biệt đảng phái, tôn giáo, cùng cộng đồng dân cư xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện tốt “Người công giáo tốt là người công dân tốt”. Quan niệm về phát triển kinh tế vùng đồng bào công giáo Theo quan niệm của các lý thuyết kinh tế phát triển gần đây thì, phát triển kinh tế theo nghĩa rộng là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt KT- XH của một quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng. Nói cách khác, phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công bằng xã hội…,là quá trình hoàn thiện cả về kinh tế và xã hội, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của mỗi quốc gia.
Như vậy, phát triển kinh tế luôn gắn với sự tăng trưởng kinh tế. Nhưng không phải mọi sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế, mà để phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện được ba nội dung cơ bản sau: 1) Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người. Nội dung này phản ánh mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. 2) Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỷ trọng của các ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống.
Nội dung này phản ánh chất lượng tăng trưởng, trình độ kỹ thuật của nền sản xuất có thể bảo đảm cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững. 3) Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế. mà mỗi người dân được hưởng. Nội dung này phản ánh mặt công bằng xã hội của sự tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, phát triển kinh tế có nội dung và ý nghĩa khá toàn diện, là mục tiêu và ước vọng của các dân tộc trong mọi thời đại.