Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ DTTS TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Khái niệm và đặc điểm Ngân hàng Chính sách xã hội 1. Khái niệm NHCSXH Tín dụng chính sách là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia XĐGN. Tiền thân của NHCSXH là Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo do NHNo thực hiện từ năm 1994-1995, sau đó là Ngân hàng Phục vụ người nghèo từ tháng 8/1995 đến tháng 12/2002.
Kế thừa và phát huy những kết quả đạt được trong 7 năm hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo, ngày 04 tháng 10 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo được thành lập theo Quyết định số 230/QĐ-NH5 ngày 01 tháng 9 năm 1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. NHCSXH là một định chế tài chính, là một loại hình ngân hàng chính sách có nhiệm vụ chủ yếu là thực thi tín dụng chính sách của Chính phủ trong từng thời kỳ đối với nhóm đối tượng chính sách xã hội. Đặc điểm hoạt động của NHCSXH NHCSXH là ngân hàng đặc thù của Chính phủ, hoạt động trong lĩnh vực XĐGN, có nhiều điểm khác biệt so với các NHTM. Những điểm khác biệt chủ yếu là: Thứ nhất, là ngân hàng dành cho người nghèo và các đối tượng chính sách.
Theo quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ, đối tượng vay vốn của NHCSXH là những hộ gia đình nghèo, các đối tượng chính sách gặp khó khăn thiếu thốn trong cuộc sống không đủ điều kiện để vay vốn từ các NHTM, các đối tượng sinh sống ở những xã thuộc vùng khó khăn. Thứ hai, là ngân hàng của Chính phủ, có tư cách pháp nhân. Dù vậy, NHCSXH vẫn là đơn vị tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động tín dụng của mình trước pháp luật; thực hiện bảo tồn và phát triển vốn; bù đắp chi phí và rủi ro hoạt động tín dụng. Là đơn vị tự chủ, nhưng NHCSXH thực hiện hạch toán tập trung toàn hệ thống.
Luan van 6 Vốn điều lệ ban đầu của NHCSXH là 5.000 tỷ đồng và được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ. Đến ngày 31/12/2019, vốn điều lệ của NHCSXH là 17. Thứ ba, NHCSXH có nguồn vốn chủ yếu từ ngân sách và được ngân sách tài trợ chi phí. Hoạt động huy động vốn của NHCS xuất phát từ tính chất của các món cho vay mà ngân hàng cung ứng.
Đó là các món vay có tỷ lệ sinh lời thấp (cho vay xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm…), thời gian dài (cho vay đối với đầu tư phát triển), rủi ro cao nên yêu cầu đối với ngân hàng là phải huy động vốn có lãi suất tương đối thấp, thời gian sử dụng dài và chịu đựng rủi ro. Vốn cho hoạt động của ngân hàng bao gồm: - Vốn có nguồn gốc từ Nhà nước (là nguồn chủ yếu). Nhà nước hỗ trợ vốn cho NHCSXH thể hiện vai trò chủ sở hữu của Nhà nước đối với ngân hàng, cung ứng vốn khi ngân hàng mới đi vào hoạt động (vốn ban đầu) và bổ sung trong quá trình hoạt động khi cần thiết (vốn chủ sở hữu). Nguồn này một phần được ngân hàng sử dụng để hình thành nên các tài sản cố định của ngân hàng (trụ sở, phương tiện làm việc và đi lại, thiết bị…), một phần gộp vào các nguồn khác để cho vay.
Việc gia tăng nguồn vốn này tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: chính sách đối với các đối tượng chính sách, năng lực tài chính của bản thân NHCS, nhu cầu về vốn của khách hàng… - Nguồn vốn từ các tổ chức chính trị, xã hội. Đây là một nguồn quan trọng của ngân hàng. Mục tiêu kinh tế xã hội mà NHCS theo đuổi có thể phù hợp với mục tiêu hoạt động của nhiều tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ trong và ngoài nước: phát triển ngành, phát triển vùng và khu vực, xoá đói giảm nghèo… thông qua xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp… Vốn từ nguồn này có khối lượng lớn, lãi suất tương đối thấp, thời hạn sử dụng thường là dài hạn, có thời gian ân hạn, kèm theo chuyển giao công nghệ, chuyên gia, cung cấp thông tin và đào tạo. Tuy vậy, nguồn vốn này thường kèm theo các điều kiện kinh tế, chính trị mà ngân hàng không dễ thực hiện và nhiều khi những điều kiện này làm cho vốn đắt lên và hiệu quả sử dụng thấp đi.
- Vốn huy động trên thị trường trong và ngoài nước. Vốn NHCSXH huy động trên thị trường bao gồm: huy động tiền gửi, tiết kiệm của dân cư và đi vay. Ngân hàng khuyến khích mở tài khoản tiền gửi và tiết kiệm đối với các tổ chức và cá nhân có Luan van 7 vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng. Đặc biệt, các NHCSXH thường tập trung vận động các tổ chức lớn như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tiền gửi, các dự án, NHTM, công ty tài chính gửi tiền vào ngân hàng dưới hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi không hưởng lãi hoặc hưởng lãi suất thấp.
Đây là nguồn vốn có vai trò quan trọng đối với ngân hàng, đánh giá vị thế của ngân hàng trên thị trường tài chính. NHCSXH được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán đối với các nguồn mà ngân hàng huy động vì ngân hàng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên nếu không được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán thì việc huy động vốn của những ngân hàng này sẽ rất khó khăn. Thứ tư, NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì ASXH, thực hiện cho vay với lãi suất và các điều kiện ưu đãi. Nói cách khác, mục tiêu chủ yếu của NHCSXH là xoá đói giảm nghèo, vì vậy mức cho vay và lãi suất cho vay của NHCSXH là do Chính phủ qui định, tùy thuộc vào từng thời kỳ cụ thể.
Hiện nay, lãi suất của các chương trình cho vay của NHCSXH từ 0%/tháng đến 0,9%/tháng. NH thực hiện phương thức cho vay ủy thác thông qua các tổ chức chính trị - xã hội. NHCSXH có Hội đồng quản trị và Ban đại diện HĐQT các cấp. HĐQT NHCSXH cấp Trung ương có 14 thành viên, gồm 12 thành viên kiêm nhiệm và 02 thành viên chuyên trách.
HĐQT có chức năng quản trị các hoạt động của NHCSXH, phê duyệt chiến lược phát triển dài hạn, kế hoạch hoạt động hàng năm, ban hành các văn bản về chủ trương, chính sách, quy định, quy chế tổ chức và hoạt động của NHCSXH các cấp, nghị quyết các kỳ họp HĐQT thường kỳ và đột xuất. Tại NHCSXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Ban đại diện HĐQT có chức năng giám sát việc thực thi các Nghị quyết, Văn bản chỉ đạo của HĐQT tại các địa phương. Chỉ đạo việc gắn tín dụng chính sách với kế hoạch xoá đói giảm nghèo và dự án phát triển kinh tế xã hội tại địa phương để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ưu đãi. Thành phần, số lượng thành viên Ban đại diện HĐQT các cấp tại địa phương tương đương như thành phần của HĐQT ở Trung ương (nhưng không có thành viên chuyên trách).
Thứ năm, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách. Sơ đồ mô hình tổ chức và quản lý NHCSXH (Nguồn: NHCSXH) 1. Khái niệm và đặc điểm của hộ DTTS 1. Khái niệm về hộ DTTS Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về dân tộc thiểu số được giới thiệu trong nhiều giáo trình chuyên ngành, tài liệu nghiên cứu,.
Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa dân tộc thiểu số như sau: “Dân tộc còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người. cộng đồng này có thể là bộ phận chủ yếu hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau liên kết với nhau bằng nhũng đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, và nhất là ý thức tự giác tộc người. Luan van 9 Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người: (i) Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này; (ii) Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (iii) Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; (iv) Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (v) Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ". Có thể thấy “Dân tộc thiểu số” là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực, ngành khoa học khác nhau trên thế giới, trong đó có khoa học pháp lý.
Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Ở Việt Nam, khái niệm DTTS được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thực tiễn. Thuật ngữ này cũng được sử dụng chính thức trong các bản hiến pháp. Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra khái niệm tại Khoản 2 - Điều 4 "DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"; Khoản3- Điều 4: "Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia".
Căn cứ vào kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở quốc gia 2019, Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ của cả nước, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với số dân 14,146 triệu người (chiếm 14,7%). Rõ ràng, quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc.