Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu các chính sách XĐGN và sinh kế hộ nghèo ở nước ngoài Đến nay, đã có khá nhiều các tài liệu trên thế giới nghiên cứu đến vấn đề đói nghèo; chính sách XĐGN; Sinh kế của hộ nghèo. Tuy nhiên, nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách XĐGN tới sinh kế hộ dân tộc thiểu số là chủ đề mới chưa được nghiên cứu ở phạm vi nước ngoài, nếu có nghiên cứu cũng chỉ xoay quanh tác động của các chương trình, chính sách đơn lẻ đến công cuộc giảm nghèo, do đó tác giả phân các vấn đề nghiên cứu theo các nhóm như sau: 1. Nhóm tài liệu nghiên cứu về nghèo đói và các chính sách XĐGN Nghiên cứu của ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) (2002)[74], “ảnh hưởng đến giảm nghèo của một số dự án, nhận thức của người hưởng lợi” đã đưa ra các biện pháp giảm nghèo của ADB, tìm ra giải pháp để các mục tiêu giảm nghèo được thực hiện một cách hiệu quả.
Năm 1999, phòng đánh giá hoạt động của ADB tiến hành một nghiên cứu đánh giá đặc biệt bao gồm 5 quốc gia thành viên đang phát triển (DMCs) để đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp giảm nghèo của ADB và làm thế nào để đưa các mục tiêu giảm nghèo vào thiết kế dự án. Nghiên cứu đánh giá này được xây dựng dưới góc nhìn, đánh giá của người hưởng lợi về việc các dự án ADB đã giảm nghèo tốt như thế nào. Nghiên cứu này bao gồm hai lĩnh vực (nông nghiệp và CSHT xã hội) ở 6 nước DMCs (Bangladesh, Indonesia, Nepal, Papua New Guinea, Philipines và Samoa). Kết quả của nghiên cứu cho thấy tình hình kinh tế hộ gia đình cải thiện do tác động từ dự án về giảm nghèo.
Các dự án được lựa chọn đã giúp cải thiện tình hình kinh tế hộ gia đình của 27% người thụ hưởng. Trong đó, tỷ lệ cao nhất hộ gia đình được cải thiện do dự án ở Bangladesh, tiếp theo là Nepal và Philippines, Indonesia có tỷ lệ thấp nhất. Các dự án tăng trưởng kinh tế có tỷ lệ người hưởng lợi thấp hơn một chút so với các dự án giảm nghèo. Các dự án thúc đẩy phát triển con người và cải thiện tình trạng của phụ nữ có tỷ lệ người hưởng lợi cao hơn đáng kể so với dự án.
Các dự án đã được phê duyệt trong những năm 1990 có tỷ lệ người hưởng lợi cao hơn đáng kể so với các chương trình được phê duyệt trong những năm 1980, cho thấy những ảnh hưởng giảm nghèo ngày càng tăng trong những năm gần đây. Nghiên cứu này đã tập trung vào khảo sát, đánh giá những ảnh hưởng của các dự án giảm nghèo từ những nhận định của những người được hưởng lợi ở một số nước. 7 Nghiên cứu của ADB (2015) [75], trong nghiên cứu về chính sách XĐGN tại các nước đang phát triển ở Châu Á, đã chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế nhanh chóng bền vững để giảm nghèo đa chiều là một thách thức lớn đối với Châu Á. Nghiên cứu này phân tích tình trạng giảm nghèo ở Châu Á, các sáng kiến chính sách áp dụng vào thực tiễn.
Nghiên cứu bao gồm các nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu thực nghiệm và các báo cáo định hướng chính sách nhằm thúc đẩy việc đo lường nghèo đói và phân tích chính sách XĐGN. Nghiên cứu tập trung vào: giảm nghèo bằng các chính sách về tài chính vi mô, đô thị và nông thôn, biến đổi khí hậu và phúc lợi, các khía cạnh của đói nghèo và giảm nghèo. Các tác giả đã sử dụng các dữ liệu và phương pháp khác nhau để cung cấp một số lượng lớn các bằng chứng thực nghiệm và các khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu ở các nước đang phát triển ở Châu Á để thiết kế và thực hiện các chính sách hiệu quả để giảm đói nghèo. Nhóm tài liệu về sinh kế và ảnh hưởng của các chính sách XĐGN Nghiên cứu của Doreen S.
Nakiyimba (2014) [67] về giảm nghèo và tính bền vững của sinh kế nông thôn thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại huyện Kakondo quận Rakai Uganda đã nêu rằng tài chính vi mô được coi là một trong những cơ chế, giải pháp giảm nghèo ở các nước nghèo hiện nay. Nghiên cứu này đã đặt mục tiêu tìm ra ảnh hưởng của tài chính vi mô đối với sinh kế của phụ nữ ở quận Kakondo, huyện Rakai ở Uganda. Để tìm ra ảnh hưởng của tài chính vi mô tới sinh kế, một nhóm khách hàng là nữ giới đã được phỏng vấn. Kết quả khảo sát cho thấy sinh kế của người dân sau khi có được tín dụng tài chính vi mô là rất thành công, tuy nhiên không phải tất cả số người được khảo sát đã sử dụng hiệu quả tín dụng tài chính vi mô, sự kém hiệu quả này một phần do kiến thức, kỹ năng và mục đích đầu tư, một phần do lãi suất vay cao, có những phụ nữ phải thuế chấp tài sản do không có khả năng thanh toán đúng hạn.
Qua đó nghiên cứu chỉ ra rằng nếu thời hạn vay được dịch chuyển, linh động hơn thì người dân sẽ có thêm thời gian kiếm tiền để trả nợ. Sự điều chỉnh này sẽ giúp người vay có thể đạt được những ảnh hưởng tích cực từ tài chính vi mô, do đó dẫn đến bền vững về sinh kế. Joseph Iloabanafor Orji (2005)[70], đã nghiên cứu ĐGTĐ của các chương trình giảm nghèo như là một chiến lược phát triển ở Nigeria. Nghiên cứu trước hết đã kiểm tra các vấn đề đói nghèo và sự kém phát triển ở Nigeria, thiếu việc làm, tỷ lệ mù chữ cao trong công dân, CSHT nghèo nàn, yếu kém trong tiếp cận các tiện ích tín dụng nhỏ và quản lý tài chính công, quản trị, tính không ổn định của chính phủ 8 và các chính sách.
Trong khi thực hiện nghiên cứu này, có tổng cộng 717 người được hỏi gồm nam giới và phụ nữ trong độ tuổi từ 25 đến 56, được chọn từ sáu khu vực ở Nigeria; các phản hồi được tổng hợp và phân tích. Kỹ thuật thống kê chi- square và tỷ lệ phần trăm được sử dụng để phân tích các dữ liệu được so sánh, và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả cho thấy các giải pháp giảm nghèo của Chính phủ liên bang của Nigeria, từ những năm 1970 vẫn chưa ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống của người dân Nigeria, đặc biệt là nghèo nàn; và không dẫn tới giảm đói nghèo chung ở Nigeria. Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy người Nigeria ở các vùng nông thôn có nhiều khả năng gắn với các chương trình XĐGN trong đó họ tham gia đóng góp ý tưởng vào thiết kế chính sách ban đầu của các giai đoạn trong các chương trình.
Nghiên cứu kết luận bằng cách cho thấy rằng đối với bất kỳ các chương trình giảm nghèo ý nghĩa nào phải được thực hiện hợp lý, như vậy chính phủ sẽ hợp tác với người dân nông thôn, để thực hiện dễ dàng hơn và thành công; do đó tạo ra kinh tế tự chủ, tăng trưởng kinh tế và phát triển. Frank Ellis (1999) [69], đã nghiên cứu về sinh kế và chính sách XĐGN như: nghiên cứu về đa dạng sinh kế nông thôn ở các nước đang phát triển, đã xem xét đa dạng sinh kế như là một chiến lược sống còn của các hộ gia đình nông thôn ở các nước đang phát triển. Mặc dù vẫn có tầm quan trọng hàng đầu, nhưng nông nghiệp ngày càng không thể cung cấp đủ phương tiện sống còn ở nông thôn. Mục tiêu của nghiên cứu, thứ nhất, là nhằm nâng cao nhận thức về đa dạng sinh kế trong các phương pháp tiếp cận phát triển nông thôn; thứ hai, để xem xét các tương tác giữa đa dạng hóa và đói nghèo, năng suất nông nghiệp, quản lý tài nguyên thiên nhiên và quan hệ giới ở nông thôn; và thứ ba, để nâng cao sự hiểu biết chính sách về sinh kế nông thôn đa dạng Nghiên cứu của Zerihun Gudeta Alemu (2012)[81], đã nghiên cứu ở Nam Phi, đã phân tích cuộc điều tra quy mô lớn các hộ gia đình gần đây; phân loại chiến lược sinh kế thành bốn nhóm chiến lược sinh kế cụ thể và phù hợp với phúc lợi của các hộ gia đình nông thôn; và phân tích những khó khăn về KT- XH mà các hộ nghèo phải đối mặt để đạt được các chiến lược sinh kế cao.
Hai cách tiếp cận được áp dụng để đạt được các mục tiêu này - Thử nghiệm ưu thế ngẫu nhiên và hồi quy logistic đa biến. Họ thấy rằng các hộ gia đình có thu nhập từ việc làm trong các hoạt động phi nông nghiệp và nông nghiệp thì tốt hơn các hộ khác. Phân tích các đặc điểm KT- XH của hộ gia đình nông thôn cũng cho thấy tuổi, nguồn lực lao động, giáo dục và đặc điểm của cộng đồng về tiếp cận với CSHT là một số rào cản mà các hộ nghèo ở nông thôn phải đối mặt với các chiến lược sinh kế. 9 Nghiên cứu của Shanta Paudel Khatiwada và các cộng sự [72] là một nỗ lực nhằm đánh giá chiến lược sinh kế của các hộ gia đình nông thôn, điều tra mức thu nhập cao và xác định các yếu tố dẫn đến lựa chọn các chiến lược tốt hơn ở nông thôn Nepal.
Dữ liệu sơ cấp thu thập được trong 453 hộ gia đình từ 3 thôn của miền trung Nepal được phân tích định lượng trong khuôn khổ sinh kế bền vững. Nghiên cứu này phân loại các hộ gia đình vào các nhóm chiến lược sinh kế chính. Kết quả cho thấy đa số (61%) các hộ đa dạng hóa thu nhập của họ cho các nguồn phi nông nghiệp. Sự đa dạng sinh kế đối với các chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp được 16% số hộ áp dụng là chiến lược gần đây nhất với chiến lược thương mại hóa, bao gồm13% số mẫu và có liên quan đến giảm nghèo.
Việc giữ đất, giáo dục, nông nghiệp và đào tạo kỹ năng, tiếp cận tín dụng, và gần với đường xá và trung tâm thị trường là những yếu tố chủ yếu trong việc áp dụng các chiến lược sinh kế cao hơn. Khuyến khích các hộ nghèo theo các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp theo định hướng thị trường bằng cách cải thiện tiếp cận với giáo dục, đào tạo nghề, tín dụng nông thôn và CSHT nông thôn là rất quan trọng để giảm nghèo ở các vùng nông thôn miền trung Nepal.