Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp - Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp ở Nam Định - Chương 3: Phương hướng giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp ở Nam Định. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KHU CÔNG NGHIỆP 1. Lý luận chung về khu công nghiệp 1. Khái niệm về khu công nghiệp KCN đầu tiên trên thế giới ra đời vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một định nghĩa chung về KCN. Các tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về KCN. Tùy điều kiện từng quốc gia mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau, hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về KCN Định nghĩa 1: KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp đan xen nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở… KCN theo quan niệm này về thực chất là khi hành chính - kinh tế đặc biệt như KCN ở Indonesia, ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu Định nghĩa 2: KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có cư dân sinh sống. Đi theo quan niệm này ở một số nước như Malaysia, Indonesia đã hình thành nhiều KCN với quy mô khác nhau [Lê Tuyền Cử, 2004] Theo Tổ chức phát triển của Liên hợp quốc đã định nghĩa như sau: KCN hay còn gọi là KCN tập trung là một quần thể liên hoàn các xí nghiệp trên một vùng có thuận lợi về các yếu tố địa lý, tự nhiên, kết cấu hạ tầng, về xã hội… để thu hút đầu tư (chủ yếu là đầu tư nước ngoài) và hoạt động theo một cơ cấu hợp lý nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất và kinh doanh Ở nước ta, KCN được đề cập đến khi miền Bắc xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên; miền Nam khi Mỹ ngụy xây dựng KCN Biên Hòa.
Nhưng chỉ đến khi có Luật Đầu tư nước ngoài 1986 thì khái niệm về KCN mới được chính thức nêu ra tại Khoản 14&15, Điều 2. Theo văn bản này, “KCN là khu chuyên sản xuất hàng 8 công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp”. Theo Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 thì khái niệm về KCN được hiểu như sau: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ. Tóm lại, dù hiểu theo cách nào thì KCN đều là một lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định, có những điều kiện tương xứng với phát triển công nghiệp về tự nhiên, cơ sở hạ tầng, QLNN, tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, các doanh nghiệp dịch vụ có liên quan đến hoạt động công nghiệp.
Đặc điểm khu công nghiệp - KCN thường được xây dựng ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi như gần đường giao thông, thuận tiện trong giao lưu với các trung tâm kinh tế lớn, gần cảng biển, sân bay… Ngoài ra, các KCN còn đòi hỏi phải có diện tích đất khá lớn, tập trung tại địa hình tương đối bằng phẳng, có cơ sở hạ tầng thích hợp. - Là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp công nghiệp trong một khu có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng như hệ thống cung cấp điện, nước; chung hệ thống xử lý nước thải, khí thải; chung giá thành sử dụng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ liên quan. - Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng quy chế riêng và ưu đãi riêng theo quy định của Chính phủ và cơ quan địa phương sở tại, có chính sách kinh tế đặc thù, ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư, tạo môi trường đầu tư thuận lợi hấp dẫn cho phép các nhà đầu tư sử dụng những phạm vi đất đai nhất định trong KCN để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi về thủ tục xin phép và thuê đất, miễn hoặc giảm thuế. - Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu là thu hút từ nước ngoài hay các tổ chức, cá nhân trong nước.
Ở các nước khác, chính phủ thường bỏ vốn đầu tư nhưng ở Việt Nam thì Nhà nước không đủ vốn vì thế việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN được kêu gọi đầu tư từ vốn trong và ngoài nước. - Việc hình thành các KCN tạo nên sự liên kết với các cơ sở kinh tế trong nước, có tác dụng lan tỏa trước hết là khu vực xung quanh KCN 9 - Sản phẩm của các nhà máy, xí nghiệp trong KCN chủ yếu xuất khẩu, hướng ra thị trường thế giới. Tuy nhiên để tăng thu ngoại tệ bằng cách giảm tối đa việc nhập khẩu các loại máy móc thiết bị và hàng hóa tiêu dùng, các nhà sản xuất trong khu KCN cũng rất quan tân đến việc sản xuất hàng hóa có chất lượng cao nhằm thay thế hàng nhập khẩu - Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường và diễn biến của thị trường quốc tế. Do đó, cơ chế quản lý kinh tế trong KCN lấy điều tiết của thị trường làm chính - KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài, hợp đồng, hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có vốn 100% vốn trong nước - Hoạt động trong KCN sẽ là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước tiến hành theo các điều kiện bình đẳng.
Phân loại khu công nghiệp Các KCN rất đa dạng với những đặc điểm đặc thù, do vậy KCN có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Trên thế giới phân loại KCN theo một số tiêu chí sau: - Căn cứ vào đặc điểm quản lý: + KCN tập trung: có thể là đa ngành, chuyên ngành, có thể có quy mô, diện tích khác nhau, được hình thành với điều kiện khác nhau. + KCX: chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định. + KCNC: là khu tập trung các doanh nghiệp công nghệ kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm nghiên cứu, triển khai khoa học, công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định.
Trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất. - Căn cứ theo tính chất ngành nghề thì KCN được chia thành 3 loại: + KCN chuyên ngành: Chỉ thu hút các doanh nghiệp cùng một ngành hoặc một số ít ngành công nghiệp khác nhau, nhưng cùng sản xuất ra một số lạo sản 10 phẩm. Đó thường là các ngành chủ đạo như: hóa chất, điện tử - tin học, vật liệu xây dựng, chế tao và lắp ráp cơ khí, thực phẩm… + KCN đa ngành: Thu hút doanh nghiệp thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau. KCN đa ngành cho phép thỏa mãn được yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất công nghiệp, song trong quy hoạch xây dựng cần lưu ý vấn đề môi trường nhằm hạn chế tác động xấu giữa các xí nghiệp khác nhau và tiết kiệm đầu tư hạ tầng + KCN sinh thái: là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp, các ngành công nghiệp được chọn sao cho các nhà máy có mối liên hệ với nhau, hỗ trợ và tương tác với nhau tạo nên môi trường sạch và bền vững.
Với mô hình KCN này thì phế liệu của nhà máy này có thể làm nguyên liệu cho nhà máy kia hoặc sản phẩm của nhà máy này sẽ là nguyên liệu, vật tư của nhà máy kia… - Căn cứ vào quy mô KCN có thể chia thành: KCN nhỏ, trung bình, lớn và rất lớn. Việc phân loại theo tiêu chí này phụ thuộc vào quan điểm của từng nước, chủ yếu phục vụ việc xếp hạng KCN. - Căn cứ và đặc tính chuyên ngành: KCN nặng, KCN nhẹ, KCN thực phẩm, KCN hóa chất, KCNC… - Căn cứ và điều kiện hình thành có các KCN: thành lập mới, nâng cấp để mở rộng, di dời tập trung. - Căn cứ vào cấp quản lý: KCN do Chính phủ quyết định thành lập, KCN do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định thành lập; KCN do Ủy ban nhân dân huyện quyết định thành lập.
Ngoài ra, các KCN còn được phân chia theo địa phương và theo vùng lãnh thổ… 1. Vai trò của khu công nghiệp đối với nền kinh tế - xã hội - Thứ nhất, KCN là phương thức thích hợp để phát triển công nghệ, nhất là đối với các nước nghèo. Để phát triển công nghiệp cần rất nhiều tiền. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, các tiền đề này rất thiếu thốn, một phần do thiếu nguồn lực tài trợ, phần khác do cần duy trì các ngành khác để tồn tại.
Chính vì thế, xây dựng các KCN là một bước đi hợp lý nhằm tận dụng mọi nguồn lực hiện có phát triển dần dần các ngành công nghiệp ở địa phương theo hướng hiện đại ngay từ đầu. Bởi vì các nước có thể tập trung nguồn lực để trang bị cho các KCN cở sở hạ tầng hiện đại, địa 11 điểm thuận lợi, thậm chí cho nó một cơ chế quản lý và chế độ ưu đãi riêng để khuyến khích các chủ đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp ở đây. Việc hình thành các KCN là một tất yếu của sự phát triển KT - XH, nhất là đối với các nước đang phát triển thì việc hình thành các khu KCN sẽ nhanh chóng thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng CNH, HĐH. Cụ thể: - Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước.
Đây là mục tiêu quan trọng nhất của KCN. Với những ưu điểm tất yếu của KCN như cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, thuận tiện trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí, vấn đề xử lý chất thải tốt là một trong những nhân tố để thu hút các nhà đầu tư.