mở đầu; Phần 2: Một số vấn đề về quản lý Nhà nước, về kinh tế đối với ngành xây dựng; Phần 3: Một số vấn đề về kinh tế, đầu tư kinh tế trong ứng dụng kỹ thuật và kinh tế thiết kế xây dựng; Phần 4: Một ấn đề về quản trị kinh doanh xây dựng. Có thể coi đây là tài liệu phục vụ cho công tác đảo tạo trong ngành quản lý xây dựng, trước hết là cho đào tạo đại học và sau đại học, đồng thời cũng có thể là tài liệu tham khảo tốt cho cán bộ quản lý nghiên cứu và hoạt động sản xuất - kinh doanh xây dựng. - Phan Huy Đường (2015), Quán lý Nhà nước về kinh tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội [8]. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, đặc biệt là khi vai trò của “bàn tay vô hình” trong nền kinh tế thị trường hiện đại có nhi.
cập khiến nền kinh tế bắt Ôn thì vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước ở mỗi Quốc gia đòi hỏi phải có sự tương thích nhằm ôn định và tạo đà cho. nền kinh tế đất nước phát triển bền vững. Ở Việt Nam, các nội dung của quản lý Nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường cũng đang dần được hoàn thiện, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh Chính vì vậy, việc học tập nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn những kiến thức cơ bản về quản lý Nhà nước nói chung, quản lý Nhà nước về kinh tế nói riêng có ý nghĩa đặc biệt đối với sinh viên, học viên và những người nghiên cứu kinh tế. Quản lý Nhà nước về kinh tế là môn khoa học giáp ranh giữa kinh tế học, quản trị học, quản trị kinh doanh, khoa học quản lý và Nhà nước pháp quyền, có đối tượng nghiên cứu là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật về sự ra đời, hình thành, tác động qua lại của các mói quan hệ, giữa các thực thể có liên quan đến các hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế của một Quốc gia.
Giáo trình Quản lý Nhà nước về kinh tế bao gồm các nội dung (1) Quản lý Nhà nước, (2) Đặc trưng kinh tế thị trường và quản lý Nhà nước về kinh tế, (3) Cơ chế, chức năng và nguyên tắc quản lý Nhà nước về kinh tế, (4) Phuong pháp và công cụ quản lý Nhà nước về kinh tế, (5) Thông tin và quyết định quản lý Nhà nước về kinh tế, (6) Bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế, (7) Cán bộ, công chức quản lý Nhà nước về kinh tế. - Bùi Mạnh Hùng (2013), Quản jý dự án đâu tư xây dựng công trình, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật [13]. Sách trình bày nội dung công tác quản lý của các thành viên liên quan đến dự án, đó là: Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, các bên tham gia đấu thầu, các nhà đầu tư, tư vấn, khảo sát, thiết kế, nhà thầu thi công và nhà thầu giám sát. Sách bao gồm các nội dung.
(1) Dự án đầu tư và nội dung kinh tế của dự án đầu tư xây dựng, (2) Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. - Đỗ Hoàng Toàn - Mai Văn Bưu (2010), Quản lý Nhà nước vẻ kinh tế, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội [16]. Nội dung giáo trình đã nêu những kiến thức lý luận, khái quát cơ bản, có tính hệ thống về việc quản lý Nhà nước về nên kinh t , công cụ và phương pháp quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tê. Với gần 900 trang sách, được chia làm 5 chương, tác giả tập trung phân tích bản chất và tác động của cách mạng công nhiệp, nhấn mạnh mối liên hệ giữa cách mạng công nghiệp 4.0 với công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phân tích thực trạng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở 'Việt Nam, nhất là từ thời kỳ đổi mới đến nay; đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; làm rõ bối cảnh, đưa ra quan điểm, mục tiêu, mô hình, đề xuất “các kịch bản phát triển” để điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế, xác định ngành mũi nhọn và hệ thống các giải pháp tổ chức thực hiện.
~ Và còn nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan. Tóm lại, các công trình nghiên cứu và sách tham khảo nêu trên đã có những đóng góp tích cực trong việc nghiên cứu luận văn của tác giả. Mặc dù đã có một số công trình được công bố nghiên cứu về một số khía cạnh liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn, tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập một cách có hệ thống, toàn diện công tác quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản cấp tỉnh nói chung, công tác quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ nói riêng, đặc biệt là tại Quảng Nam. Do đó, dé tài luận văn mà tác giả đã chọn là mới mẻ và không trùng lặp.
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE BAU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. ĐẦU TƯ XÂY DUNG CO BAN VA QUAN LY NHA NUOC VE DAU TU XAY DUNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước a. Một số khái niệm Đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước Theo Luật đầu tư công số 49/2014/QH13: “Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”.
Trong nền kinh tế thị trường, đầu tư xây dựng cơ bản là lĩnh vực cần nhiều vn, quay vòng chậm, lãi suất tháp, kinh tế tư nhân thường ít đầu tư. Vì vậy, đầu tư từ ngân sách Nhà nước là yêu cầu cấp thiết mà các quốc gia phải quan tâm. Dé hệ thống kết cấu hạ tầng có thể phát triển đồng bộ cần phải có vai trò định hướng, điều tiết của Nhà nước đề phân bổ nguồn lực của quốc gia trong việc đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng. Ngân sách Nhà nước Theo Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
NSNN được quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, phân công, phân cấp quản lý gắn liền với quyền hạn và trách nhiệm. Quốc hội là cơ quan lập pháp có quyền lực cao nhất trong việc quyết định dự toán NSNN, phân bổ ngân sách Trung ương, phê chuẩn quyết toán NSNN HH Vốn đầu trr xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước “Vốn ĐTXD cơ bản từ NSNN là một phần của vốn đầu tư phát triển của NSNN được hình thành từ sự huy động của Nhà nước dùng để chỉ cho đầu tư các công trình kết cầu hạ tầng nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cầu hạ tầng kinh tế - xã hội cho đất nước. Theo đó, vốn sử dụng để ĐTXD cơ bản thuộc khoản mục chỉ NSNN cho các công trình KCHT kinh tế - xã hội, là khoản chỉ không có khả năng thu hồi vốn” [1]. Kết cẫu hạ tằng giao thông đường bộ Theo Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12: “Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là hệ thống những công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ được xây dựng, nhằm đảm bảo cho việc.
di chuyển, đón trả khách, xếp dỡ và vận chuyên hàng hóa, dịch vụ của các loại phương tiện tham gia giao thông diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi và an toàn”. Trong hệ thống KCHT kinh tế - xã hội thì KCHTGTĐB là bộ phận cau thành cơ bản và quan trọng nhất. KCHTGTĐB có mặt khắp mọi nơi và có mối quan hệ gắn kết, song hành với các loại KCHT khác như hệ thống cấp điện, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc. KCHTGTĐB có đặc trưng là tính thống nhất và đồng bộ, giữa các bộ phận của KCHTGTĐB có sự kết ¡, gắn kết hài hòa với nhau tạo thành một thê vững chắc, do đó phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống.
Ngoài ra, KCHTGTĐB còn có đặc trưng là thường có quy mô lớn, chủ yếu là ở ngoài trời và được xây dựng rải rác trên phạm vi địa bàn rộng lớn, do đó chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên. Đầu tr xây dựng kết cấu hạ tằng giao thông đường bộ từ ngân sách Nhà nước 12 “Đầu tư xây dựng KCHTGTĐB từ NSNN là sự phối hợp những hoạt động nhằm sử dụng nguồn vốn NSNN để xây dựng các công trình GTĐB đáp ứng các mục tiêu đầu tư đã được xác định trong một khoảng thời gian với nguồn kinh phí nhất định trong khuôn khô các quy định về quản lý hiện hành của Nhà nước về ĐTXD và NSNN” [8]. Đầu tư xây dựng KCHTGTĐB từ NSNN đối với cấp tỉnh là sự phối hợp những hoạt động nhằm sử dụng nguồn vốn NSNN do cấp tỉnh quản lý để xây dựng các công trình KCHTGTĐB trên địa bàn thuộc trách nhiệm đầu tư của tỉnh. Đặc điểm của hoạt động ĐTXD cơ bản Thứ nhất, Đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi quy mô vốn đầu tư thường rất lớn, quá trình đầu tư kéo dài.
Đầu tư xây dựng cơ bản phải qua rất nhiều công đoạn: khảo sát, thiết kế, lập dự án. đồng thời không gian đầu tư kéo dài qua nhiều địa phương, khu Vựccó tu kiện địa hình, địa chất khó khăn, thuận lợi khác nhau (sông, su ) qua cá khu dân cư phải đền bù, giải phóng mặt bằng. do đó cần nhiều thời gian để xử lý kỹ thuật, trình phương án. Để đảm bảo lợi ích phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn vi ju tư từ NSNN là nguồn thu từ NSNN cấp Trung ương hay cấp tỉnh, các nguồn thu này chủ yếu phụ thuộc vào thuế. Thu từ thuế phụ thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện nước ta cũng như tinh Quảng Nam.