CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 1. Một số khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa (CNH-HĐH) thì chuyển dịch đất đai từ nông nghiệp và các mục đích khác phục vụ cho phát triển công nghiệp cùng với quá trình thu hồi đất (THĐ), giải phóng mặt bằng (GPMB) là quy luật tất yếu, nhưng đây là một vấn đề phức tạp bởi công tác THĐ, bồi thường (BT), hỗ trợ (HT), GPMB, tái định cư (TĐC) ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội, tập quán, tâm linh, đặc biệt là quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Theo Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013: Thu hồi đất: Là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Để đảm bảo quyền và lợi ích cho người dân khi bị THĐ thì người dân có đất bị thu hồi sẽ nhận được những khoản bồi thường về đất, bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại và sẽ được hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Theo Khoản 12 và 13 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013 thì: Bồi thường về đất: Là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất. Chi phí đầu tư vào đất còn lại: Bao gồm chi phí san lấp mặt bằng và chi phí khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được.
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển. Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được quy định tại Khoản 2, Điều 83, Khoản 1, 2 Điều 84, Luật Đất đai 2013 cụ thể: a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở; Đối với Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh. Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm.
c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở; d) Hỗ trợ khác. Ngoài ra, những quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định cụ thể tại Nghị định 47/2014/ NĐ-CP và Thông tư 37/2014/TT-BTNMT về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.Các văn bản pháp luật về công tác bồi thường Trước khi có Luật đất đai 1993 Ngày 14 tháng 4 năm 1959, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định 151/TTg quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất. Ngày 11 tháng 01 năm 1970 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Thông tư 1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường thiệt hại nhà cửa, đất đai, cây cối hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố trên nguyên tắc “Phải đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của hợp tác xã và của nhân dân”. Thi hành Hiến pháp năm 1980, Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 2 năm 1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất cho các đối tượng có nhu cầu để sử dụng ổn định lâu dài, có thời hạn hoặc tạm thời theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được duyệt.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó. Ngày 31 tháng 5 năm 1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường. UBND các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1993 nhà nước chỉ mới có một số quy định riêng lẻ về đền bù thiệt hại, chưa hình thành chính sách thu hồi đất do đó nhà nước không bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất. Nguyên nhân là khi đó đất đai chỉ được xem là tài nguyên có giá trị sử dụng, mặt khác do nền kinh tế có nhiều khó khăn nên nhu cầu thu hồi đất cũng không lớn. Từ Luật đất đai 1993 đến trước Luật Đất đai 2003 Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 17/08/1994 quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Nghị định này ban hành quy định đền bù về đất khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Nguyên tắc đền bù là Nhà nước thu hồi đất nào thì đền bù bằng đất nấy, trường hợp không có đất hoặc người bị thu hồi đất không muốn nhận đất thì được đền bù bằng tiền với giá trị tính theo giá đất do UBND cấp tỉnh quy định cụ thể trong phạm vi khung giá đất do Chính phủ quy định tại Nghị định số 87/NĐ-CP ngày17/08/1994. Tài sản gắn liền với đất được đền bù theo phần giá trị tài sản còn lại được tính theo giá quy định của Nhà nước. Nghị định này không quy định về mức hỗ trợ để di chuyển chỗ ở, thời gian ngừng việc làm, đào tạo nghề nghiệp mới, …. Nghị định cũng không quy định về cơ chế thực hiện tái định cư mà chủ yếu là bồi thường nhà ở bằng tiền để xây dựng nhà ở mới.
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Nghị định này ban hành để thay thế Nghị định 90/NĐ-CP ngày 7/08/1994. Giá đất để tính bồi thường trong Nghị định này là giá đất do UBND cấp tỉnh quy định nhưng được nhân với hệ số K sao cho giá đất phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường. Người bị thu hồi đất có nhà ở chỉ được đền bù diện tích đất ở đúng định mức do UBND cấp tỉnh quy định.
Tài sản gắn liền với đất được đền bù theo giá trị còn lại và cộng với một tỷ lệ phần trăm của giá trị này nhưng tổng không vượt quá 100% và không nhỏ hơn 60% giá trị ban đầu của nhà đó. Bên cạnh giá trị đền bù, Nghị định này đã đề cập tới các khoản hỗ trợ cho người bị thu hồi đất như hỗ trợ ổn định sản xuất, ổn định đời sống, di chuyển chỗ ở, đào tạo nghề mới. Nghị định này cũng có quy định cụ thể về việc xây dựng các khu TĐC và bố trí người bị thu hồi đất ở vào khu TĐC. Từ Luật Đất đai 2003 đến trước Luật Đất đai 2013 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai có những quy định cụ thể về những trường hợp THĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, THĐ để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế và trình tự thu hồi đất đối với trường hợp Nhà nước sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Đây là Nghị định quy định chi tiết cho cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc.