Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu (19 trang) - Chương 2. Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu (30 trang) - Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (75 trang) - Kết luận và đề nghị (3 trang).
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ LOÀI CÂY SẾN TRUNG 1. Tên gọi, phân loại Cây Sến trung có tên khoa học là Homalium ceylanicum (Gardner) Benth. Đây là tên đã được chấp nhận của một loài trong chi Homalium (họ Salicaceae).
Hồ sơ có nguồn gốc từ Tropicos (dữ liệu được cung cấp vào 18/4/2012) đây là một tên được chấp nhận (hồ sơ 50120570) với các chi tiết xuất bản đầu tiên là J. Tên đồng nghĩa: Blackwellia ceylanica Gardner, Calcutta J. 1847; Homalium balansae Gagnepain; H. Tên gọi tiếng Anh là Liyan, Blackwellia zeylanica Gard, H.
Ở Ấn Độ gọi Sến trung là Kalmattiga, Hulikaddi Mara, Kala, Kalavaram, Kalladamba, Kaluvaluka, Manthalamukhi, Manthala Mukhi, Manthalamukhi [100]. Tekuri và cs (2014) [91] đã phân loại Sến trung (Homalium ceylanicum (Gardner) Benth) thuộc giới thực vật, ngành Magnoliophyta (Hạt kín), lớp Magnoliopsida (Mộc lan), Bộ Violales (Hoa tím), Họ Flacourtiaceae (Mùng quân), Chi Homalium. Chi Homalium có trên 150 loài thực vật thân gỗ có phân bố rộng ở vùng nhiệt đới thế giới tập trung ở khu vực Đông Nam Á và Madagascar (Sleumer 1954, 1973, Applequist, 2013) [86], [87], [54]. Trong đó có 33 tên loài trong chi Homalium đã được chấp nhận.
Tuy nhiên, những loài thuộc chi Homalium đã được mô tả nhưng còn thiếu nhiều thông tin về đặc điểm và phân bố của chúng (Sleumer, 1954) [86]. Theo Lai SS. (1999) [68], Sến trung là loài cây thuộc chi Homalium, thường sống ở rừng thường xanh và bán thường xanh. Sến trung phân bố tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Hoa Nam, Giang Tây, Vân Nam Trung Quốc.
Ngoài ra, loài này còn phân bố tự nhiên ở Băng La Đét, Ấn Độ, Lào, Myanma, Nepal, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam (Qiu Xiao Jun và Wang Xioy Zhi, 2006) [46]. Phạm Hoàng Hộ (1999) [20] cho rằng Sến trung có tên gọi là Chà ran sến với tên khoa học là Homalium ceylanicum (Gardn. Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [14], trong giáo trình thực vật rừng cho rằng Sến trung có tên gọi là Chà ran bông trắng, Chà ran xây lan, Chà ran tích lan. Trần Hợp (2002) [21], trong cuốn "Tài nguyên cây gỗ Việt Nam" cho rằng Sến trung có tên gọi là Chà ran xây lan, Nạp 5 ốc với tên khoa học là Homalium ceylanicum (Gardn.) Benth hoặc Homalium hainanense Gardnep.
Theo Lê Thị Diên và cs (2009) [17], Sến trung còn có tên gọi là Sến ngọn đỏ, Chà ran sến thuộc họ Mùng quân (Flacourtiaceae). Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [14], đã mô tả đặc điểm của họ Mùng quân hay họ Bồ quân (Flacourtiaceae) là cây gỗ hay cây bụi, thường có gai đơn hoặc phân nhánh trên thân, cành hoặc nách lá. Lá đơn, mép nguyên hoặc có răng cưa, mọc cách, có lá kèm sớm rụng, đôi khi không có lá kèm. Hoa tự bông chùm, viên thùy, ngù hoặc sim, ít khi đơn lẻ.
Hoa đều, lưỡng tính hoặc đơn tính khác gốc, xếp lợp thường sống dai trên quả. Cánh tràng 3 đến 6, rời xếp lợp, đôi khi phát triển to và sống dai. Ở một số loài hoa không có tràng. Nhị 1 đến nhiều, rời hoặc chỉ nhị hợp thành ống.
Bao phấn 2 ô nứt dọc. Trung đới đôi khi có tuyến, triền hoa trong hoặc ngoài nhị. Bầu trung hoặc bầu trên 1 ô, đính noãn trên. Quả mập hoặc quả nang, đôi khi quả hạch.
Hạt dẹt, có vỏ giả đôi khi có cánh, hạt nhiều phôi nhũ. Họ này có 86 chi, 850 loài. Phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Việt Nam có 11 chi và 45 loài.
Kết quả nghiên cứu của Tagane và cs (2016) [90], cho rằng ở Việt Nam có 11 loài của chi Homalium được biết như: Homalium caryophyllaceum (Zoll. Phân bố Tại Trung Quốc, Sến trung phân bố tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Hoa Nam, Giang Tây, Vân Nam. Ngoài ra, loài này còn phân bố tự nhiên ở Băng La Đét, Ấn Độ, Lào, Myanma, Nepal, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam (Homalium, Flora of China, 2007) [64]. Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [14], tại Việt Nam Sến trung có phân bố rộng, gặp ở các tỉnh Bắc Cạn, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.
Ở Thừa Thiên Huế, Sến trung đã được người dân gây trồng trên 100 năm nay (Lê Thị Diên và cs, 2009) [17]. Giá trị sử dụng Các kết quả nghiên cứu cho thấy, sản phẩm từ cây Sến trung được sử dụng chủ yếu cho y học và cung cấp gỗ gia dụng. Sến trung được trồng làm cây cảnh và gỗ của nó được sử dụng vì mục đích thương mại (Sililan, 1859) [83]. Madhavachetty và cs (2008) [72], cho rằng gỗ Sến trung rất cứng và tốt, thường dùng để xây dựng và làm đồ nội thất, điêu khắc.
Vỏ cây và lá của cây Sến trung có nhiều công dụng truyền thống chữa bệnh tiểu đường, thấp khớp và các hoạt động lành vết thương. 6 Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới về cây Sến trung đều tập trung vào vấn đề chiết xuất các chất hóa học từ loài cây này dùng để chữa bệnh ung thư (Ekabo và cs (1993) [60]; Shashank và cs (2011) [81]; Yuan và cs (2014) [98]; Swathi và cs (2014) [89]. Các nghiên cứu cho thấy một số chất được chiết xuất từ các bộ phận của cây Sến trung rất có giá trị trong y học. Đây là cơ sở quan trọng cho việc gây trồng và phát triển loài cây này ở một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka… Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [14], Lê Thị Diên và cs [17], giá trị sử dụng của Sến trung ở Việt Nam mới chỉ chủ yếu là cung cấp gỗ phục vụ chế biến đồ mộc.
Sến trung là cây cho gỗ nhỡ hoặc lớn, lõi giác phân biệt, giác màu trắng ngà, lõi màu nâu đỏ, cứng và nặng (tỷ trọng 0,8 đến 0,84), thớ hơi xoắn, mịn, chịu nước mặn tốt. Gỗ dùng trong xây dựng, đóng tàu thuyền, làm cột buồm, cột trụ lưới đánh cá, nò sáo trong nuôi trồng hải sản, chuồng trại chăn nuôi, nông cụ và đóng đồ thông thường. Sến trung có tán hẹp, hình tháp nhọn, rễ ăn sâu ít làm khô đất, lá hoai mục nhanh nên rất thích hợp cho việc trồng phòng hộ cho cây nông nghiệp, cây ăn quả; trồng xen hay trồng lục hóa tạo cảnh quan. NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 1.
Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học và lâm học cây Sến trung 1. Đặc điểm hình thái và vật hậu Cây Sến trung được một số tác giả trên thế giới mô tả về hình dáng bên ngoài. Đây là cơ sở khoa học cho việc định loại và phân biệt Sến trung với những loài cây khác, đặc biệt những loài trong chi Homalium. Tekuri và cs (2014) [91] đã mô tả đặc điểm cây Sến trung ở Ấn Độ có thể cao đến 25 m; Vỏ nhẵn màu xám với các đốm màu trắng cam; Cành hình trụ nhẵn, mảnh; Đường kính cây 30 cm.
Lá đơn, mọc cách; lá kèm sớm rụng, cuống lá nhẵn dài 0,5 đến 1,3 cm; Mặt cắt ngang lá phẳng lồi; Phiến lá mỏng hình elíp 7,5 - 13 cm x 3,6 - 7,6 cm, đỉnh có đầu nhọn hoặc gần tròn, mép lá có khía nhẵn nhọn; gân giữa ở trên phẳng và gân phụ gồm 6 đến 8 cặp. Hoa hình chùm bông nhọn dài, thanh mảnh với chùm bị ngắt nhiều hoa nhỏ; hoa thường xanh màu trắng, đôi khi có vài cụm màu đỏ thẫm trên cùng 1 bông. Hạt nhỏ, nhiều, thuôn dài hoặc góc cạnh. Lai (1999) [68], đã mô tả Sến trung ở Trung Quốc là cây gỗ cao từ 6 m đến 30 m, có khi đến 40 m, có bạnh vè, vỏ mỏng đến thô, cành màu nâu, lông nhẵn.
Lá kèm tuyến tính mũi mác nhẵn sớm rụng, dài 1,5 đến 3 mm. Cuống lá nhẵn, mịn dài 5 đến 12 mm. Phiến lá có thể biến đổi hình dạng và kích thước từ hình elíp đến hình trụ, hiếm khi có hình trứng ngược, đầu nhọn rộng 1,5 đến 2,5 (-3) cm, lá mỏng với kích thước 6 - 18 (-20) x 2,5 - 8 (- 9) cm, lá phẳng, nhẵn, bên ngoài có lông ngắn, gân bên gồm 7 đến 10 cặp, gốc lá nhọn với hai mặt lồi, mép lá có răng cưa tù nhọn, mũi lá từ 7 nhọn đến tròn, đôi khi co lại nhọn tới 1cm. Cụm hoa hình chùm rủ ở nách lá, dài 5 - 20 (- 30) cm; trục cụm hoa thưa đến dày, lông tơ thưa thớt ngắn màu nâu xám nhạt, lá kèm sớm rụng dài 2 mm hình tam giác hẹp.
Cuống hoa dài 1 đến 3 mm, nối với nhau ở trên hoặc ở giữa, có lông dày, ngắn. Hoa nhiều, mỗi chùm từ 3 đến 20 hoa, đôi khi tập trung nhiều cuống hoa dài đường kính từ 2,5 đến 3 mm; vào mùa nở hoa thơm ngát. Ống đài dài từ 0,5 đến 1,5 mm, có lông ngắn (0,1 đến 0,2 mm) màu trắng mật độ từ thưa đến dày. Đài hoa hình cầu dài hay hình thìa mũi nhọn dài 0,5 - 2 x 0,3 - 0,5 mm, lớp lông bên ngoài ống đài, bên trong hơi dày đặc, mép có lông màu trắng nhạt rậm rạp dài từ 1/2 đến 1 lần độ rộng cánh đài.
Tràng hoa có màu trắng nhạt hay hồng nhạt, hình trứng, 0,8 - 2 x 0,6 mm, chỉ nhị nhẵn dài 2 đến 3 mm, bao phấn 0,4 mm; 4 đến 6 giá noãn, mỗi giá noãn mang 3 đến 6 noãn. Bầu giữa, nhụy 4 đến 6, vòi nhụy dài 1 đến 2 mm, có lông ở dưới đáy. Về vật hậu: Theo Lai (1999) [68], mùa ra hoa ở Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 11, mùa quả từ tháng 2 đến tháng 12. Tại Srilanka, Ấn Độ, mùa hoa quả từ tháng 2 đến tháng 7 (Tekuri và cs, 2014) [91].
Như vậy, việc phân loại, tên gọi và mô tả hình thái của loài cây Sến trung tương đối rõ ràng, không chỉ có tác dụng nhận biết và phân biệt các loài mà còn có ý nghĩa lớn khi nghiên cứu tại Việt Nam. Đặc điểm lâm học - Đặc điểm phân bố: Lai (1999) [68], cho rằng Sến trung phân bố dưới tán rừng thường xanh và bán thường xanh độ cao từ 400 m đến 1.200 m so với mực nước biển. - Đặc điểm sinh thái, sinh lý: Sến trung là cây ưa sáng, chịu bóng giai đoạn đầu. Thích hợp với nhiệt độ bình quân từ 22 0C đến 24 0C, tháng lạnh nhất trên 15 0C, lượng mưa bình quân năm từ 1.400 mm, độ ẩm tương đối từ 75 % đến 85 %.
Sến trung có hệ thống rễ phát triển có khả năng cản gió tốt.