Nghiên cứu khoa học giải pháp bảo tồn, phục hồi & phát triển cây Sến Trung tại Thừa Thiên Huế

Nghiên cứu khoa học về giải pháp bảo tồn, phục hồi và phát triển loài cây sến trung (Homalium ceylanicum) tại Thừa Thiên Huế. Đảm bảo sự tồn tại và phát triển

Chuyên ngành

Lâm sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

156
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cây Sến Trung tại Thừa Thiên Huế

Sến Trung có tên khoa học Homalium ceylanicum (Gardner) Benth, thuộc họ Salicaceae. Loài cây này phân bố chủ yếu trong rừng nhiệt đới thường xanh ở độ cao dưới 800 mét. Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, Sến Trung tập trung tại các huyện Phú Lộc, Nam Đông, thị xã Hương Thủy và Hương Trà. Cây thuộc nhóm gỗ quý, có giá trị kinh tế cao. Thân gỗ cứng, thớ đẹp, được sử dụng rộng rãi trong xây dựng và nội thất. Sến Trung là loài cây ưa sáng, sinh trưởng nhanh. Khi còn nhỏ, cây cần bóng che nhẹ. Khi trưởng thành, cây chiếm tầng cao nhất của tán rừng. Khả năng tái sinh chồi của loài này rất tốt. Mùa hoa diễn ra vào tháng 6 và tháng 7 hàng năm. Mùa quả chín rơi vào tháng 9 đến tháng 10. Đây là thời điểm lý tưởng để thu hái hạt giống phục vụ công tác nhân giống. Nghiên cứu cơ sở khoa học cho giải pháp bảo tồn loài cây này được Trường Đại học Nông Lâm Huế thực hiện từ năm 2015 đến 2018.

1.1. Đặc điểm hình thái và sinh học của Sến Trung

Sến Trung là cây gỗ lớn, cao từ 20 đến 30 mét. Thân thẳng, đường kính có thể đạt trên 50 phân. Vỏ ngoài màu xám nâu, có vết nứt dọc. Lá đơn mọc cách, hình trái xoan rộng hoặc thuôn, dài 6 đến 8 cm. Mặt trên lá màu xanh bóng, mặt dưới nhạt hơn. Gân lá có 6 đến 10 đôi. Hoa tự bông mọc ở nách lá gần đầu cành, dài 10 đến 30 cm. Quả hình cầu nhỏ, đường kính khoảng 2,5 mm, khi chín chuyển màu nâu nhạt.

1.2. Phân bố tự nhiên và điều kiện sinh thái

Sến Trung phân bố rải rác trong các loại rừng nhiệt đới thường xanh ở vùng Bắc Trung Bộ. Tại Thừa Thiên Huế, loài cây này xuất hiện tại Vườn Quốc gia Bạch Mã, các khu rừng phòng hộ Sông Hương và Hương Thủy. Cây ưa khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình từ 2.500 đến 3.000 mm mỗi năm. Sến Trung phát triển tốt trên đất feralit vàng đỏ, tầng đất dày, thoát nước tốt. Độ cao phân bố phổ biến dưới 800 mét so với mực nước biển.

II. Thực trạng và thách thức bảo tồn cây Sến Trung

Tài nguyên rừng Sến Trung tại Thừa Thiên Huế đang suy giảm nghiêm trọng. Số lượng cây trưởng thành trong tự nhiên ngày càng ít đi. Nguyên nhân chính là khai thác gỗ trái phép kéo dài nhiều năm. Diện tích rừng tự nhiên thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Các quần thể Sến Trung còn lại phân bố rải rác, quy mô nhỏ. Điều này gây khó khăn cho quá trình tái sinh tự nhiên. Công tác quản lý giống cây trồng còn nhiều hạn chế. Nguồn hạt giống chưa được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng. Kỹ thuật nhân giống vẫn còn nhiều bất cập. Tỷ lệ sống sau trồng rừng chưa đạt yêu cầu. Nhận thức của cộng đồng địa phương về giá trị của loài cây này còn thấp. Thiếu cơ sở dữ liệu đầy đủ về phân bố và tình trạng quần thể. Chưa có quy trình bảo tồn ex situ được xây dựng bài bản. Ngân sách đầu tư cho công tác bảo tồn còn hạn chế. Đây là những thách thức lớn cần được giải quyết kịp thời.

2.1. Tình trạng suy giảm tài nguyên gen Sến Trung

Quần thể Sến Trung tại Thừa Thiên Huế đang đối mặt với nguy cạn kiệt nguồn gen. Các cây trội có giá trị gen quý hiếm chưa được bảo vệ hiệu quả. Nhiều cây mẹ hạt giống bị khai thác trước khi kịp thu hoạch. Diện tích rừng có Sến Trung phân bố liên tục bị thu hẹp qua các năm. Mức độ đa dạng di truyền trong quần thể ngày càng giảm. Nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời, nguồn gen quý của loài này có thể bị mất vĩnh viễn.

2.2. Hạn chế trong kỹ thuật gây trồng và nhân giống

Quy trình nhân giống Sến Trung hiện tại còn nhiều bất cập. Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống dao động lớn, không ổn định. Phương pháp ươm hạt chưa được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn kỹ thuật. Chất lượng cây con trong vườn ươm chưa đồng đều. Tỷ lệ sống của cây trồng sau khi đưa ra hiện trường còn thấp. Kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho loài này chưa được nghiên cứu đầy đủ. Cần có giải pháp kỹ thuật tổng thể để nâng cao hiệu quả gây trồng.

III. Giải pháp kỹ thuật bảo tồn và phục hồi cây Sến Trung

Nghiên cứu đã đề xuất nhiều giải pháp kỹ thuật khả thi. Giải pháp đầu tiên là tuyển chọn cây trội làm nguồn giống. Phương pháp đánh giá dựa trên chỉ số chất lượng tổng hợp ICL. Tiêu chí bao gồm độ thẳng thân, độ nhỏ cành và hình thái tán. Đã xây dựng hồ sơ lý lịch 50 cây trội đạt tiêu chuẩn. Giải pháp thứ hai là hoàn thiện kỹ thuật nhân giống. Quy trình thu hái hạt giống được thực hiện từ ngày 15 đến 20 tháng 8. Hạt giống được kiểm nghiệm theo tiêu chuẩn ngành 04TCN 33:2001. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm độ thuần, tỷ lệ nảy mầm và sức nảy mầm. Giải pháp thứ ba là cải tiến kỹ thuật lâm sinh. Phương pháp trồng kết hợp với chăm sóc trong giai đoạn đầu. Cây con được trồng dưới bóng che nhẹ để tăng tỷ lệ sống. Giải pháp thứ tư là bảo tồn nguồn gen tại chỗ. Các cây trội được đánh dấu, quản lý và bảo vệ lâu dài. Bản đồ phân bố cây trội được xây dựng bằng phần mềm ArcGIS 10.

3.1. Tuyển chọn cây trội và xây dựng nguồn giống gốc

Phương pháp tuyển chọn cây trội dựa trên nhiều tiêu chí kỹ thuật. Cây được đánh giá qua độ thẳng thân, tỷ lệ lợi dụng gỗ và chất lượng tổng hợp. Công thức tính tỷ lệ lợi dụng gỗ dựa trên chiều cao dưới cành và chiều cao vút ngọn. Chỉ số ICL kết hợp ba yếu tố: độ thẳng, độ nhỏ cành và hình thái tán. 50 cây trội đã được tuyển chọn tại 5 huyện, thị xã. Mỗi cây được lập hồ sơ lý lịch đầy đủ theo quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp.

3.2. Hoàn thiện quy trình nhân giống và gây trồng

Quy trình nhân giống Sến Trung được nghiên cứu và hoàn thiện từng bước. Hạt giống thu hái từ 5 cây mẹ tại 5 địa điểm khác nhau trong tỉnh. Sau chế biến, hạt được kiểm nghiệm các chỉ tiêu chất lượng theo quy chuẩn. Phương pháp ươm hạt được tối ưu hóa để tăng tỷ lệ nảy mầm. Cây con được chăm sóc trong vườn ươm trước khi xuất trồng. Kỹ thuật lâm sinh được áp dụng phù hợp với đặc điểm sinh thái của loài. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của cây trồng cải thiện đáng kể.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng trong phát triển lâm nghiệp

Nghiên cứu đã cung cấp cơ sở khoa học đầy đủ cho công tác bảo tồn Sến Trung. Kết quả đạt được trên nhiều phương diện quan trọng. Đặc điểm hình thái và sinh học của loài được mô tả chi tiết. Tình trạng phân bố tự nhiên tại Thừa Thiên Huế được khảo sát toàn diện. Phương pháp tuyển chọn cây trội đã xây dựng thành công. 50 cây trội được lựa chọn làm nguồn giống gốc cho tỉnh. Quy trình nhân giống được hoàn thiện với tỷ lệ nảy mầm cải thiện. Kỹ thuật lâm sinh gây trồng được bổ sung và tối ưu hóa. Bản đồ phân bố cây trội được số hóa bằng công nghệ GIS. Hồ sơ lý lịch cây trội được xây dựng theo đúng quy chuẩn. Các kết quả nghiên cứu có tính ứng dụng cao trong thực tiễn sản xuất. Giải pháp đề xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội địa phương. Đây là nền tảng vững chắc để mở rộng diện tích trồng rừng Sến Trung. Nghiên cứu cũng gợi ý hướng tiếp tục cho các công trình sau này.

4.1. Giá trị khoa học và thực tiễn của kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đóng góp nhiều giá trị khoa học và thực tiễn. Về khoa học, luận án bổ sung kiến thức về đặc điểm sinh học và sinh thái của Sến Trung. Phương pháp đánh giá cây trội được xây dựng dựa trên tiêu chí khách quan. Về thực tiễn, quy trình nhân giống mới giúp nâng cao hiệu quả sản xuất giống. Kỹ thuật lâm sinh cải tiến giúp tăng tỷ lệ sống khi trồng rừng. Kết quả áp dụng được tại các vùng Bắc Trung Bộ có điều kiện tương tự.

4.2. Định hướng bảo tồn và phát triển bền vững nguồn gen

Bảo tồn nguồn gen Sến Trung cần được thực hiện đồng thời tại chỗ và ngoài chỗ. Tại chỗ, các cây trội được bảo vệ nghiêm ngặt trong rừng tự nhiên. Ngoài chỗ, vườn giống cây trội được xây dựng để lưu giữ nguồn gen. Phát triển bền vững đòi hỏi sự phối hợp giữa cơ quan quản lý và cộng đồng địa phương. Chương trình trồng rừng gỗ lớn Sến Trung cần được đưa vào quy hoạch lâm nghiệp. Giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng là yếu tố then chốt cho thành công lâu dài.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Nghiên cứu cơ sở khoa học cho giải pháp bảo tồn phục hồi và phát triển loài cây sến trung homalium ceylanicum gardner benth tại tỉnh thừa thiên huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu (19 trang) - Chương 2. Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu (30 trang) - Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (75 trang) - Kết luận và đề nghị (3 trang).

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ LOÀI CÂY SẾN TRUNG 1. Tên gọi, phân loại Cây Sến trung có tên khoa học là Homalium ceylanicum (Gardner) Benth. Đây là tên đã được chấp nhận của một loài trong chi Homalium (họ Salicaceae).

Hồ sơ có nguồn gốc từ Tropicos (dữ liệu được cung cấp vào 18/4/2012) đây là một tên được chấp nhận (hồ sơ 50120570) với các chi tiết xuất bản đầu tiên là J. Tên đồng nghĩa: Blackwellia ceylanica Gardner, Calcutta J. 1847; Homalium balansae Gagnepain; H. Tên gọi tiếng Anh là Liyan, Blackwellia zeylanica Gard, H.

Ở Ấn Độ gọi Sến trung là Kalmattiga, Hulikaddi Mara, Kala, Kalavaram, Kalladamba, Kaluvaluka, Manthalamukhi, Manthala Mukhi, Manthalamukhi [100]. Tekuri và cs (2014) [91] đã phân loại Sến trung (Homalium ceylanicum (Gardner) Benth) thuộc giới thực vật, ngành Magnoliophyta (Hạt kín), lớp Magnoliopsida (Mộc lan), Bộ Violales (Hoa tím), Họ Flacourtiaceae (Mùng quân), Chi Homalium. Chi Homalium có trên 150 loài thực vật thân gỗ có phân bố rộng ở vùng nhiệt đới thế giới tập trung ở khu vực Đông Nam Á và Madagascar (Sleumer 1954, 1973, Applequist, 2013) [86], [87], [54]. Trong đó có 33 tên loài trong chi Homalium đã được chấp nhận.

Tuy nhiên, những loài thuộc chi Homalium đã được mô tả nhưng còn thiếu nhiều thông tin về đặc điểm và phân bố của chúng (Sleumer, 1954) [86]. Theo Lai SS. (1999) [68], Sến trung là loài cây thuộc chi Homalium, thường sống ở rừng thường xanh và bán thường xanh. Sến trung phân bố tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Hoa Nam, Giang Tây, Vân Nam Trung Quốc.

Ngoài ra, loài này còn phân bố tự nhiên ở Băng La Đét, Ấn Độ, Lào, Myanma, Nepal, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam (Qiu Xiao Jun và Wang Xioy Zhi, 2006) [46]. Phạm Hoàng Hộ (1999) [20] cho rằng Sến trung có tên gọi là Chà ran sến với tên khoa học là Homalium ceylanicum (Gardn. Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [14], trong giáo trình thực vật rừng cho rằng Sến trung có tên gọi là Chà ran bông trắng, Chà ran xây lan, Chà ran tích lan. Trần Hợp (2002) [21], trong cuốn "Tài nguyên cây gỗ Việt Nam" cho rằng Sến trung có tên gọi là Chà ran xây lan, Nạp 5 ốc với tên khoa học là Homalium ceylanicum (Gardn.) Benth hoặc Homalium hainanense Gardnep.

Theo Lê Thị Diên và cs (2009) [17], Sến trung còn có tên gọi là Sến ngọn đỏ, Chà ran sến thuộc họ Mùng quân (Flacourtiaceae). Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [14], đã mô tả đặc điểm của họ Mùng quân hay họ Bồ quân (Flacourtiaceae) là cây gỗ hay cây bụi, thường có gai đơn hoặc phân nhánh trên thân, cành hoặc nách lá. Lá đơn, mép nguyên hoặc có răng cưa, mọc cách, có lá kèm sớm rụng, đôi khi không có lá kèm. Hoa tự bông chùm, viên thùy, ngù hoặc sim, ít khi đơn lẻ.

Hoa đều, lưỡng tính hoặc đơn tính khác gốc, xếp lợp thường sống dai trên quả. Cánh tràng 3 đến 6, rời xếp lợp, đôi khi phát triển to và sống dai. Ở một số loài hoa không có tràng. Nhị 1 đến nhiều, rời hoặc chỉ nhị hợp thành ống.

Bao phấn 2 ô nứt dọc. Trung đới đôi khi có tuyến, triền hoa trong hoặc ngoài nhị. Bầu trung hoặc bầu trên 1 ô, đính noãn trên. Quả mập hoặc quả nang, đôi khi quả hạch.

Hạt dẹt, có vỏ giả đôi khi có cánh, hạt nhiều phôi nhũ. Họ này có 86 chi, 850 loài. Phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Việt Nam có 11 chi và 45 loài.

Kết quả nghiên cứu của Tagane và cs (2016) [90], cho rằng ở Việt Nam có 11 loài của chi Homalium được biết như: Homalium caryophyllaceum (Zoll. Phân bố Tại Trung Quốc, Sến trung phân bố tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Hoa Nam, Giang Tây, Vân Nam. Ngoài ra, loài này còn phân bố tự nhiên ở Băng La Đét, Ấn Độ, Lào, Myanma, Nepal, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam (Homalium, Flora of China, 2007) [64]. Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [14], tại Việt Nam Sến trung có phân bố rộng, gặp ở các tỉnh Bắc Cạn, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.

Ở Thừa Thiên Huế, Sến trung đã được người dân gây trồng trên 100 năm nay (Lê Thị Diên và cs, 2009) [17]. Giá trị sử dụng Các kết quả nghiên cứu cho thấy, sản phẩm từ cây Sến trung được sử dụng chủ yếu cho y học và cung cấp gỗ gia dụng. Sến trung được trồng làm cây cảnh và gỗ của nó được sử dụng vì mục đích thương mại (Sililan, 1859) [83]. Madhavachetty và cs (2008) [72], cho rằng gỗ Sến trung rất cứng và tốt, thường dùng để xây dựng và làm đồ nội thất, điêu khắc.

Vỏ cây và lá của cây Sến trung có nhiều công dụng truyền thống chữa bệnh tiểu đường, thấp khớp và các hoạt động lành vết thương. 6 Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới về cây Sến trung đều tập trung vào vấn đề chiết xuất các chất hóa học từ loài cây này dùng để chữa bệnh ung thư (Ekabo và cs (1993) [60]; Shashank và cs (2011) [81]; Yuan và cs (2014) [98]; Swathi và cs (2014) [89]. Các nghiên cứu cho thấy một số chất được chiết xuất từ các bộ phận của cây Sến trung rất có giá trị trong y học. Đây là cơ sở quan trọng cho việc gây trồng và phát triển loài cây này ở một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka… Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [14], Lê Thị Diên và cs [17], giá trị sử dụng của Sến trung ở Việt Nam mới chỉ chủ yếu là cung cấp gỗ phục vụ chế biến đồ mộc.

Sến trung là cây cho gỗ nhỡ hoặc lớn, lõi giác phân biệt, giác màu trắng ngà, lõi màu nâu đỏ, cứng và nặng (tỷ trọng 0,8 đến 0,84), thớ hơi xoắn, mịn, chịu nước mặn tốt. Gỗ dùng trong xây dựng, đóng tàu thuyền, làm cột buồm, cột trụ lưới đánh cá, nò sáo trong nuôi trồng hải sản, chuồng trại chăn nuôi, nông cụ và đóng đồ thông thường. Sến trung có tán hẹp, hình tháp nhọn, rễ ăn sâu ít làm khô đất, lá hoai mục nhanh nên rất thích hợp cho việc trồng phòng hộ cho cây nông nghiệp, cây ăn quả; trồng xen hay trồng lục hóa tạo cảnh quan. NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 1.

Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học và lâm học cây Sến trung 1. Đặc điểm hình thái và vật hậu Cây Sến trung được một số tác giả trên thế giới mô tả về hình dáng bên ngoài. Đây là cơ sở khoa học cho việc định loại và phân biệt Sến trung với những loài cây khác, đặc biệt những loài trong chi Homalium. Tekuri và cs (2014) [91] đã mô tả đặc điểm cây Sến trung ở Ấn Độ có thể cao đến 25 m; Vỏ nhẵn màu xám với các đốm màu trắng cam; Cành hình trụ nhẵn, mảnh; Đường kính cây 30 cm.

Lá đơn, mọc cách; lá kèm sớm rụng, cuống lá nhẵn dài 0,5 đến 1,3 cm; Mặt cắt ngang lá phẳng lồi; Phiến lá mỏng hình elíp 7,5 - 13 cm x 3,6 - 7,6 cm, đỉnh có đầu nhọn hoặc gần tròn, mép lá có khía nhẵn nhọn; gân giữa ở trên phẳng và gân phụ gồm 6 đến 8 cặp. Hoa hình chùm bông nhọn dài, thanh mảnh với chùm bị ngắt nhiều hoa nhỏ; hoa thường xanh màu trắng, đôi khi có vài cụm màu đỏ thẫm trên cùng 1 bông. Hạt nhỏ, nhiều, thuôn dài hoặc góc cạnh. Lai (1999) [68], đã mô tả Sến trung ở Trung Quốc là cây gỗ cao từ 6 m đến 30 m, có khi đến 40 m, có bạnh vè, vỏ mỏng đến thô, cành màu nâu, lông nhẵn.

Lá kèm tuyến tính mũi mác nhẵn sớm rụng, dài 1,5 đến 3 mm. Cuống lá nhẵn, mịn dài 5 đến 12 mm. Phiến lá có thể biến đổi hình dạng và kích thước từ hình elíp đến hình trụ, hiếm khi có hình trứng ngược, đầu nhọn rộng 1,5 đến 2,5 (-3) cm, lá mỏng với kích thước 6 - 18 (-20) x 2,5 - 8 (- 9) cm, lá phẳng, nhẵn, bên ngoài có lông ngắn, gân bên gồm 7 đến 10 cặp, gốc lá nhọn với hai mặt lồi, mép lá có răng cưa tù nhọn, mũi lá từ 7 nhọn đến tròn, đôi khi co lại nhọn tới 1cm. Cụm hoa hình chùm rủ ở nách lá, dài 5 - 20 (- 30) cm; trục cụm hoa thưa đến dày, lông tơ thưa thớt ngắn màu nâu xám nhạt, lá kèm sớm rụng dài 2 mm hình tam giác hẹp.

Cuống hoa dài 1 đến 3 mm, nối với nhau ở trên hoặc ở giữa, có lông dày, ngắn. Hoa nhiều, mỗi chùm từ 3 đến 20 hoa, đôi khi tập trung nhiều cuống hoa dài đường kính từ 2,5 đến 3 mm; vào mùa nở hoa thơm ngát. Ống đài dài từ 0,5 đến 1,5 mm, có lông ngắn (0,1 đến 0,2 mm) màu trắng mật độ từ thưa đến dày. Đài hoa hình cầu dài hay hình thìa mũi nhọn dài 0,5 - 2 x 0,3 - 0,5 mm, lớp lông bên ngoài ống đài, bên trong hơi dày đặc, mép có lông màu trắng nhạt rậm rạp dài từ 1/2 đến 1 lần độ rộng cánh đài.

Tràng hoa có màu trắng nhạt hay hồng nhạt, hình trứng, 0,8 - 2 x 0,6 mm, chỉ nhị nhẵn dài 2 đến 3 mm, bao phấn 0,4 mm; 4 đến 6 giá noãn, mỗi giá noãn mang 3 đến 6 noãn. Bầu giữa, nhụy 4 đến 6, vòi nhụy dài 1 đến 2 mm, có lông ở dưới đáy. Về vật hậu: Theo Lai (1999) [68], mùa ra hoa ở Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 11, mùa quả từ tháng 2 đến tháng 12. Tại Srilanka, Ấn Độ, mùa hoa quả từ tháng 2 đến tháng 7 (Tekuri và cs, 2014) [91].

Như vậy, việc phân loại, tên gọi và mô tả hình thái của loài cây Sến trung tương đối rõ ràng, không chỉ có tác dụng nhận biết và phân biệt các loài mà còn có ý nghĩa lớn khi nghiên cứu tại Việt Nam. Đặc điểm lâm học - Đặc điểm phân bố: Lai (1999) [68], cho rằng Sến trung phân bố dưới tán rừng thường xanh và bán thường xanh độ cao từ 400 m đến 1.200 m so với mực nước biển. - Đặc điểm sinh thái, sinh lý: Sến trung là cây ưa sáng, chịu bóng giai đoạn đầu. Thích hợp với nhiệt độ bình quân từ 22 0C đến 24 0C, tháng lạnh nhất trên 15 0C, lượng mưa bình quân năm từ 1.400 mm, độ ẩm tương đối từ 75 % đến 85 %.

Sến trung có hệ thống rễ phát triển có khả năng cản gió tốt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ