Luận án: Nghiên cứu cơ sở khoa học phát triển cây Ba kích (Morinda officinalis) tại Bắc Giang

Hướng dẫn phát triển cây Ba kích (Morinda officinalis) tại Bắc Giang. Tìm hiểu kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và giá trị kinh tế của dược liệu quý này.

Chuyên ngành

Lâm Sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ lâm nghiệp

2021

214
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cây Ba kích Morinda officinalis How tại Bắc Giang

Cây Ba kích (Morinda officinalis How) là loài dược liệu quý thuộc họ Cà phê (Rubiaceae). Rễ củ của cây chứa nhiều hoạt chất có giá trị như iridoid glycoside, anthraquinone và polysaccharide. Đây là nguyên liệu quan trọng trong y học cổ truyền, được dùng để bổ thận dương, tăng cường sinh lực và chữa các bệnh xương khớp. Tỉnh Bắc Giang có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp cho loài cây này phát triển, đặc biệt tại các huyện Lục Nam và Sơn Động. Luận án tiến sĩ của NCS. Kim Ngọc Quang, thực hiện từ năm 2014 đến 2021 tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, tập trung nghiên cứu các cơ sở khoa học nhằm phát triển loài cây này theo hướng bền vững. Nghiên cứu được triển khai trong khuôn khổ dự án tuyển chọn, nhân giống và trồng thử nghiệm cây dược liệu tại địa bàn tỉnh Bắc Giang. Kết quả nghiên cứu cung cấp nền tảng khoa học cho việc mở rộng diện tích trồng Ba kích, góp phần phát triển kinh tế lâm nghiệp địa phương và bảo tồn nguồn gen dược liệu quý hiếm.

1.1. Đặc điểm sinh học và phân bố tự nhiên của Ba kích

Ba kích là cây thân leo, sống lâu năm, có rễ củ phình to thành từng đốt đặc trưng. Cây phân bố tự nhiên ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam như Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn và một số tỉnh miền Trung. Cây ưa ẩm, sinh trưởng tốt dưới tán rừng thứ sinh với độ tàn che từ 30 đến 50 phần trăm. Tại Bắc Giang, Ba kích mọc tự nhiên ở độ cao từ 100 đến 600 mét so với mực nước biển, trên đất feralit đỏ vàng hoặc đất phù sa cổ có tầng dày.

1.2. Giá trị dược liệu và kinh tế của cây Ba kích

Rễ củ Ba kích được Bộ Y tế công nhận là dược liệu chính thức trong danh mục thuốc thiết yếu. Hàm lượng hoạt chất iridoid và polysaccharide trong rễ có tác dụng tăng cường miễn dịch, chống viêm và kháng oxy hóa. Giá thu mua rễ Ba kích khô dao động từ 300.000 đến 500.000 đồng mỗi kilogram, mang lại thu nhập đáng kể cho người trồng. Nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc ngày càng tăng, tạo động lực mạnh mẽ để mở rộng diện tích trồng tại Bắc Giang.

II. Phân tích đa dạng di truyền và phân loại giống Ba kích Bắc Giang

Nghiên cứu đa dạng di truyền là bước nền tảng trong việc tuyển chọn giống Ba kích chất lượng cao. Từ 26 mẫu thu thập tại Bắc Giang, nhóm nghiên cứu áp dụng hệ thống phân loại theo sáu nhóm tiêu chí hình thái, bao gồm đặc điểm lá, thân, lá kèm, hoa, quả và rễ củ. Kết quả phân nhóm xác định được 11 nhóm mẫu giống khác nhau. Phân tích đa dạng di truyền dựa trên chỉ thị ITS và ISSR cho thấy sự biến động di truyền đáng kể giữa các quần thể. Hệ số tương đồng Jaccard dao động từ 0,31 đến 0,95, phản ánh mức độ đa dạng phong phú ở cấp độ phân tử. Nghiên cứu tại Quảng Ninh với 10 mồi ISSR phát hiện 45 trong tổng số 46 phân đoạn DNA là đa hình, xác nhận tiềm năng chọn lọc giống lớn. Hệ số sai khác di truyền quần thể Nei đạt Gst bằng 0,3281 và hệ số trao đổi gen Nm bằng 1,0240. Những số liệu này cho thấy quần thể Ba kích tự nhiên duy trì dòng gen giữa các vùng địa lý, đồng thời vẫn có sự phân hóa di truyền rõ ràng. Thông tin này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nguồn giống phù hợp cho từng vùng trồng tại Bắc Giang.

2.1. Phân loại hình thái và nhận diện nhóm mẫu giống

Sáu nhóm tiêu chí hình thái được sử dụng để đánh giá và phân loại 26 mẫu Ba kích thu thập. Tiêu chí lá bao gồm màu sắc lá non và lá già, hình dạng phiến lá, kích thước cuống và số cặp gân. Tiêu chí thân ghi nhận màu sắc, hình dạng và đặc điểm bề mặt thân non và già. Phân tích tổng hợp xác định được hai nhóm chính: nhóm thân có lông với hệ số tương đồng từ 0,54 đến 0,88 và nhóm thân không lông với hệ số từ 0,56 đến 0,95. Mỗi nhóm đại diện được chọn một mẫu giống làm vật liệu phân tích di truyền.

2.2. Ứng dụng chỉ thị phân tử ITS và ISSR trong đánh giá giống

Phân tích ITS được thực hiện tại Phòng nghiên cứu công nghệ sinh học, Đại học Dược Hà Nội. Quy trình tách chiết ADN tổng số áp dụng phương pháp CTAB của Doyle và Doyle (1987) có cải tiến phù hợp với đặc điểm mô lá Ba kích. Kết quả PCR-RAPD với 10 đoạn mồi thu được 307 băng DNA, trong đó 189 băng đa hình, chiếm tỷ lệ trung bình 60,58 phần trăm. Sơ đồ cây phân loại xây dựng bằng phần mềm NTSYS PC 2.1 theo thuật toán UPGMA cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho quá trình chọn nguồn giống.

III. Phương pháp nhân giống và kỹ thuật trồng Ba kích tại Bắc Giang

Nhân giống Ba kích được nghiên cứu theo hai hướng chính: nhân giống hữu tính bằng hạt và nhân giống vô tính bằng hom thân. Phương pháp nhân giống vô tính cho tỷ lệ ra rễ cao hơn và rút ngắn thời gian tạo cây con. Thí nghiệm được triển khai tại huyện Lục Nam và huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và Công ty Cổ phần Lâm Y Dược Bắc Sơn. Kết quả thử nghiệm xác định mật độ trồng tối ưu, chế độ bón phân và kỹ thuật tạo tán che phù hợp với điều kiện địa phương. Mô hình trồng xen canh Ba kích dưới tán rừng keo và rừng thứ sinh được đánh giá có triển vọng kinh tế cao. Độ tàn che từ 40 đến 60 phần trăm giúp cây sinh trưởng tốt, hạn chế sâu bệnh và duy trì độ ẩm đất ổn định. Dự án CIAI cũng hỗ trợ triển khai xây dựng mô hình thí nghiệm quy mô lớn tại huyện Sơn Động, cung cấp dữ liệu thực địa quan trọng cho luận án.

3.1. Kỹ thuật nhân giống vô tính bằng hom thân và giâm cành

Hom thân Ba kích được thu hoạch từ cây mẹ đã được tuyển chọn, có độ tuổi từ hai đến ba năm. Hom dài từ 10 đến 15 centimet, có ít nhất hai mắt ngủ, được xử lý bằng thuốc kích rễ IBA ở nồng độ từ 1.000 đến 2.000 ppm. Giá thể giâm hom gồm hỗn hợp cát sông và đất mùn theo tỷ lệ 1:1, đảm bảo thoáng khí và giữ ẩm tốt. Tỷ lệ ra rễ đạt trên 70 phần trăm sau 45 đến 60 ngày trong điều kiện nhà giâm có mái che. Cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn sau 90 ngày nuôi dưỡng.

3.2. Mô hình trồng Ba kích dưới tán rừng và kết quả thực nghiệm

Mô hình trồng xen canh Ba kích dưới tán rừng keo lai tại Sơn Động cho thấy cây sinh trưởng tốt và ít bị sâu bệnh hại. Mật độ trồng 3.300 cây mỗi héc ta được xác định là tối ưu, kết hợp bón lót phân hữu cơ hoai mục với lượng 5 kilogram mỗi hố. Sau ba năm trồng, năng suất rễ củ tươi đạt từ 8 đến 12 tấn mỗi héc ta, cao hơn đáng kể so với trồng thuần. Mô hình này giúp tận dụng đất rừng hiệu quả, tăng thu nhập cho hộ dân và đồng thời cải thiện độ che phủ rừng tại địa phương.

IV. Kết luận và định hướng phát triển Ba kích bền vững tại Bắc Giang

Nghiên cứu đã xây dựng được cơ sở khoa học toàn diện cho việc phát triển cây Ba kích tại tỉnh Bắc Giang. Các kết quả về đa dạng di truyền, kỹ thuật nhân giống, mô hình trồng và tiêu chuẩn đánh giá giống tạo thành hệ thống tư liệu khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao. Tỉnh Bắc Giang có tiềm năng phát triển vùng nguyên liệu Ba kích quy mô lớn, đặc biệt tại các huyện miền núi như Sơn Động, Lục Nam và Lục Ngạn. Định hướng phát triển cần gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất nguyên liệu và chế biến dược phẩm, xây dựng chuỗi giá trị khép kín từ trồng trọt đến thị trường. Sự phối hợp giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, doanh nghiệp và hộ nông dân là yếu tố quyết định thành công. Kết quả luận án đóng góp trực tiếp vào chính sách phát triển cây dược liệu của tỉnh, phù hợp với chương trình quốc gia về phát triển dược liệu Việt Nam giai đoạn 2020 đến 2030.

4.1. Khuyến nghị chính sách và giải pháp nhân rộng mô hình

Tỉnh Bắc Giang cần ban hành chính sách hỗ trợ giống, kỹ thuật và vốn vay ưu đãi cho hộ dân trồng Ba kích. Quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung tại các xã có điều kiện sinh thái phù hợp giúp tổ chức sản xuất hiệu quả hơn. Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng rễ Ba kích theo hướng GAP-Dược liệu là điều kiện cần thiết để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Liên kết sản xuất theo hợp đồng giữa doanh nghiệp dược và nông dân đảm bảo đầu ra ổn định, giảm rủi ro thị trường cho người trồng.

4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo và bảo tồn nguồn gen Ba kích

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào chọn tạo giống Ba kích năng suất cao thông qua phương pháp lai hữu tính giữa các dòng đã phân lập. Xây dựng ngân hàng gen in vitro bảo tồn các mẫu giống quý là nhiệm vụ ưu tiên trong bối cảnh quần thể tự nhiên đang bị thu hẹp. Nghiên cứu chiết xuất và tiêu chuẩn hóa hoạt chất từ rễ Ba kích Bắc Giang phục vụ sản xuất dược phẩm cần được đẩy mạnh. Đánh giá tác động môi trường của mô hình trồng xen canh giúp hoàn thiện quy trình canh tác bền vững lâu dài.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ lâm nghiệp nghiên cứu một số cơ sở khoa học nhằm phát triển cây ba kích morinda officinalis how tại tỉnh bắc giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu: 5 trang - Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghi n cứu: 24 trang - Chƣơng 2. Nội dung v phƣơng pháp nghi n cứu: 22 trang - Chƣơng 3. Kết quả nghi n cứu v thảo luận: 61 trang - Kết luận, tồn tại v kiến nghị: 2 trang 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Trên thế giới 1. Tên gọi, phân loại, đặc điểm hình thái và đa dạng di truyền * Tên gọi, phân loại: Việc xác định t n khoa học, phân loại theo họ thực vật đối với Ba k ch đƣợc nhiều nh thực vật tr n thế giới quan tâm nghi n cứu, điển hình l các nh thực vật học của Trung Quốc. Theo các nh phân loại thực vật thì Ba k ch có t n khoa học l Morinda officinalis How, thuộc chi Morinda, họ C ph Rubiaceae. Theo hệ thống phân loại thực vật (WHO - IUCN - WWF, 1993) [70], họ C ph có khoảng 617 chi với khoảng 13.548 lo i (http://www.org/browse/A/Rubiaceae/) [80], sự đa dạng về số lƣợng các lo i đã đƣa họ C ph đứng vị tr thứ tƣ về số lƣợng các lo i thực vật có hoa v đứng thứ năm về số lƣợng chi, trong đó có chi Nh u (Morinda) có khoảng 80 lo i, hầu hết các lo i trong chi Nh u đƣợc phân bố ở các vùng nhiệt đới tr n thế giới.

Ngo i ra, Ba kích còn có các t n gọi khác nhƣ Radix morindae Officinalis, Moninda root, Medicinal mulberry Root, Morinda officinalis. Tuy nhi n, t n gọi Morinda officinalis How đƣợc phần lớn các nh khoa học thống nhất sử dụng (Tao Chen et al, 2011) [69]. Trên thị trƣờng, Ba kích có t n dƣợc phẩm là Radix Morindae officinalis, và rất nhiều tên gọi khác nhau nhƣ: Morinda root, Medicinal indian mulberry, Ba Ji Tian, Bajitian, Indian mulberry (root), Morinda officinalis, Morindae Radix, Radix Morindae, Radix Morindae Officinalis, Root. Trên thế giới sản phẩm Ba kích có các tên tiếng Anh là: Noni, Nature's Noni, Morianda Pump hoặc Indian Mulberry Root.

Tên gọi khác bằng tiếng Trung Quốc: Ba Ji, Ba Ji Tian, Ji Tian, Ba Ji Rou, Ji Chang Feng, Mao Chang Jing, Tu Er Chang, Ji Yan Teng, San Jiao Teng (http://www.com/ingredien ts/morinda; http://www.aspx?flor a_i d=3&taxon_id=2000 22157; http://www.htm; Http:// www.com/produc ts/proper/proper10011. 7 Trong quyển Thực vật ch Trung Quốc (Tao chen et al, 2011) [69], đã phân loại lo i Ba kích trong hệ thống phân loại thực vật nhƣ sau: Ngành Magnoliophyta (Ngành Ngọc Lan) Lớp Magnoliopsida (Lớp Ngọc Lan) Bộ Rubiales (Bộ Cà phê) Họ Rubiaceae (Họ Cà phê) Chi Morinda Linnaeus. Theo t i liệu mô tả thực vật của Trung Quốc thì Ba k ch có 2 thứ l Morinda officinalis Var. Officinalis v Morinda officinalis Var.

How v 1 đối tƣợng chƣa xác định l Morinda officinalis „Uniflora‟. Đặc điểm phân biệt 3 đối tƣợng n y nhƣ sau: - Đối tƣợng Morinda officinalis „Uniflora‟: Cụm hoa có từ 15 - 25 hoa, cuống hoa d i khoảng 2mm. Các thu của đ i thƣờng có m u trắng. Phân lo i n y đƣợc gây trồng rộng rãi ở Quảng Đông.

- Thứ Morinda officinalis Var. Officinalis: Phiến lá d nh với nhau tại trục, lá thƣa, bề mặt lá có các lông nhỏ. Hoa cụm có từ 4 - 10 hoa, cuống hoa d i 1-10mm. Thu của các đ i có m u xanh lá cây.

Phân lo i n y đƣợc trồng phổ biến ở các tỉnh Ph c Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam. - Thứ Morinda officinalis Var. C: Phiến lá có lông nhung trong suốt v d y đặc. Cụm hoa có từ 4 - 10 hoa, cuống hoa d i 1 - 10mm.

Thu của đ i hoa thƣờng có m u xanh lá cây. Phân bố tr n các n i thuộc tỉnh Hải Nam (Tao chen v cộng sự, 2011) [69]. * Đ c điểm h nh thái: Ba k ch l cây dây leo, sống lâu năm. Lá đơn mọc đối, có lá kèm trong suốt ở gốc cuống lá.

Cuống lá d i 4 - 11 mm, có lông m u nâu. Phiến lá mép nguy n, hình trứng ngƣợc k ch thƣớc 6 - 13 3 - 6 cm, tr n bề mặt tr n v dƣới của phiến lá có lông nhỏ. Mỗi lá có 5 - 7 cặp gân, lá kèm hợp nhất th nh dạng mo cau hoặc dạng ống có đƣờng k nh 3 - 5mm. Cụm hoa có từ 4 - 25 hoa.

Hoa hợp nhất, đ i hoa có lông măng nh n, có từ 2-4 thu , thu hình tam giác đôi khi k ch thƣớc các thùy không đồng đều tr n một hoa. Tr ng hoa m u trắng, hình chuông, b n ngo i có lông măng, 8 ống tr ng có đƣờng k nh 3 - 4mm. Các quả hạch ho n to n hợp nhất, m u đỏ, gần giống hình cầu, đƣờng k nh 4 - 5mm. Quả ch n tháng 10 đến tháng 11 (Tao chen et al, 2011) [69].

Củ Ba k ch có hình trụ, hơi d t v cong. Đƣờng k nh củ thông thƣờng từ 0,5 - 2cm, thắt từng đoạn theo chiều dọc của củ. Củ tƣơi có m u v ng xám, khi phơi khô có m u xám đen. Củ có lõi gỗ, đƣờng k nh 1 - 5mm dạng xoắn răng cƣa, cứng, m u nâu v ng hoặc m u trắng, m u v ng tu thuộc v o tuổi của củ (Yao et al, 1998) [76].

* Đa dạng di truyền: Việc nghi n cứu t nh đa dạng di truyền của các quần thể cây Ba kích đã đƣợc các nh khoa học Trung Quốc thực hiện. Năm 2006, Ding et al đã phân t ch sự đa dạng di truyền Ba kích bằng chỉ thị R PD. Trong số 40 mồi R PD đƣợc sử dụng thì 14 mồi cho sản phẩm đa hình. Qua phân t ch kết quả, tác giả đƣa ra kết luận cây Ba kích có sự đa dạng ở mức độ phân tử (Ding P et al, 2006) [65].

ặc điểm phân bố và sinh thái Tại Trung Quốc Ba kích có phân bố tự nhi n tại các tỉnh Ph c Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam. Cây có phân bố ở nhiều trạng thái rừng v trạng thái cây bụi thƣa hay d y đặc ở tr n n i ở độ cao 100 - 500m (Tao chen et al, 2011) [69]. Cây th ch hợp ở những nơi có nhiệt độ bình quân năm l 210C, nhiệt độ trung bình tháng từ 20 - 250C, lƣợng mƣa tr n 1. Ba k ch thuộc loại củ ăn sâu, yêu cầu đất đai có độ m u mỡ, ẩm, thoát nƣớc tốt, đất thịt pha sét (https://en.org/wi ki/Morinda) [85].

Ba kích l cây ƣa ẩm, ƣa sáng v hơi chịu bóng khi còn non. Trong tự nhiên thƣờng thấy Ba kích trong các kiểu rừng thứ sinh hoặc rừng xen tre nứa ( t). Độ cao phân bố phổ biến thƣờng dƣới 300m, trên các loại đất feralit đỏ v ng hay v ng đỏ v hơi chua. Đó cũng l một trong các lý do giải thích tại sao trồng Ba kích ở vùng đồng bằng thấy khó khăn.

Cây sinh trƣởng mạnh vào mùa xuân hè, ra hoa kết quả trong vụ hè thu, đến mùa đông nếu gặp sƣơng muối nhiều cây bị rụng lá. Trong điều kiện trồng trọt, cây có giá thể leo v đƣợc chiếu sáng đầy đủ sẽ ra hoa, quả nhiều hơn. Những cây có giá thể leo bị đổ mặc dù có hoa nhiều nhƣng lƣợng kết quả thấp. 9 Cây Ba kích mọc tự nhi n thƣờng có ít hoa, quả hơn cây trồng.

Ba kích có khả năng tái sinh chồi tốt (Tao chen et al, 2011) [69]. Giá trị sử dụng Củ Ba k ch l một loại dƣợc liệu quý truyền thống của ngƣời Trung Quốc, đƣợc sử dụng để bồi bổ sức kho , tráng dƣơng, giảm đau, tăng cƣờng cơ bắp v xƣơng, chữa bệnh thấp khớp (Yao, et al 1998) [76], nhiều hợp chất đƣợc tìm thấy trong củ Ba k ch nhƣ anthraquinon, iridoid v carbohydrate có tác dụng dƣợc lý trong việc tăng cƣờng hoạt động miễn dịch, chống ung thƣ, chống viêm, chống mệt mỏi và có thể th c đẩy sự tiết corticosterone (Dƣợc điển Trung Quốc, 2010; https://en.org/wiki/Morinda) [18], [85]. Ngoài ra, củ Ba k ch còn có tác dụng chống trầm cảm khi thử nghiệm trên chuột có tác dụng rõ rệt (Zhong-QiZhang et al, 2002) [79]. Củ Ba kích có vị ngọt hơi chát, t nh ấm quy vào các kinh gan và thận, củ Ba kích phối hợp với các vị thuốc khác dùng chữa các bệnh về thận nhƣ tiểu không tự chủ, chứng bất lực ở nam giới, đau lạnh bụng dƣới, chữa vô sinh ở nữ giới do tử cung lạnh, kinh nguyệt không đều, l m tăng nội tiết tố ở phụ nữ (estrogen) và của nam giới (androgen).

Ngoài ra, Ba kích còn sử dụng để chữa một số bệnh về đau nhức khớp do lạnh, thấp khớp, bệnh cao huyết áp. Nghiên cứu về tác dụng dƣợc lý cũng cho thấy, củ Ba k ch không độc và không có tác dụng phụ khi sử dụng lâu dài ở liều dùng thông thƣờng (http://www. Bằng sự hỗ trợ của các loại máy phân tích hiện đại, việc nghiên cứu phân lập các hợp chất có trong củ Ba k ch v tác dụng sinh học của nó đƣợc rất nhiều tác giả trên thế giới quan tâm, có thể kể tới nhƣ: Youngken H. Theo các tác giả thì trong củ Ba k ch có chứa các hợp chất nhƣ Anthraquinone, Iridoid, Glucoside, Etanolic,.

Chiết suất Etanolic có trong củ Ba k ch có tác dụng rõ rệt trong việc hạ đƣờng huyết đáng kể đối với chuột mắc bệnh tiểu đƣờng sau 10 ngày điều trị (Y Y Soon, B K H Tan, 2002) [72]. 10 Yoshikawa et al (1995) [77] đã xác định trong củ Ba k ch chứa các anthra glucosid/anthraquinon (tectoquinon, rubiadin, alizarin-1-methyl ether,…), các iridoid glucosid (asperulosid, monotropien, morindolid, morofficinalosid,…), các sterol, lacton, các chất vô cơ (K, Na, Mg, l, Fe, P,…). Ngo i ra, trong dƣợc liệu Ba kích chứa nhiều đƣờng (nystose), nhựa, acid hữu cơ, t tinh dầu v mẫu tƣơi có chứa nhiều vitamin C. Theo Wu YJ et al (2006) [71], chất chiết từ củ Ba kích có tác dụng chống lại gốc tự do rõ rệt, tác dụng rõ nhất trong việc chống lại các ứng kích ô xy hoá (superoxide) và các gốc hydroxy.

Jongwon Choi et al (2005) [64], đã nghiên cứu khả năng chống viêm từ chất chiết sản phẩm củ Ba k ch cho thấy hợp chất 1 v 2 đƣợc xác định là monotropein và axit deacetylasperulosidic có khả năng chống viêm trên chuột, hai chất này có khả năng l m giảm đáng kể sự phù nề gây ra ở chuột. Tác giả đi đến kết luận chất chiết từ củ Ba kích có khả năng sử dụng để làm thuốc chống viêm hiệu quả. Kỹ thu t nhân giống và gây trồng Trung Quốc l quốc gia rất quan tâm tới phát triển cây dƣợc liệu, trong đó có cây Ba kích, bởi trồng Ba kích mang lại hiệu quả kinh tế rất cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ