Luận án tiến sĩ: Cơ sở khoa học trồng rừng thâm canh Sa mộc (Cunninghamia lanceolata) tại Đông Bắc Bộ - Lê Thị Ngọc Hà

Nghiên cứu khoa học về trồng rừng Sa mộc thâm canh tại Đông Bắc Bộ. Phân tích kỹ thuật, điều kiện sinh thái và hiệu quả kinh tế của mô hình phát triển lâm

Chuyên ngành

Lâm sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ lâm nghiệp

2021

206
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về trồng rừng thâm canh Sa mộc Cunninghamia lanceolata

Sa mộc (Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook) là loài cây lâm nghiệp quan trọng tại vùng Đông Bắc Bộ Việt Nam. Loài cây này thuộc họ Bụt mọc (Taxodiaceae), có nguồn gốc từ Trung Quốc và đã được trồng rộng rãi tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Gỗ Sa mộc có chất lượng cao, thẳng thớ, ít cong vênh, được ứng dụng nhiều trong xây dựng và sản xuất đồ mộc. Luận án tiến sĩ của NCS Lê Thị Ngọc Hà, thực hiện từ năm 2015 đến 2020 tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, tập trung nghiên cứu các cơ sở khoa học phục vụ trồng rừng thâm canh loài cây này. Nghiên cứu hướng đến mục tiêu nâng cao năng suất và chất lượng gỗ lớn, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu công nghiệp chế biến lâm sản. Vùng Đông Bắc Bộ với điều kiện khí hậu á nhiệt đới, đất đai phù hợp, là khu vực tiềm năng để phát triển rừng trồng Sa mộc theo hướng thâm canh bền vững. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở kỹ thuật toàn diện từ chọn giống, nhân giống đến quy trình chăm sóc và khai thác rừng.

1.1. Đặc điểm sinh học và phân bố của Sa mộc tại Việt Nam

Sa mộc là cây thân gỗ lớn, có thể đạt chiều cao trên 30 m trong điều kiện lập địa thuận lợi. Loài cây này phân bố tự nhiên tại Trung Quốc và đã du nhập vào Việt Nam từ lâu. Tại vùng Đông Bắc Bộ, Sa mộc được trồng chủ yếu ở các tỉnh Lào Cai, Quảng Ninh, Hà Giang. Cây sinh trưởng tốt ở độ cao 500–1500 m so với mực nước biển, ưa khí hậu mát ẩm, lượng mưa trên 1200 mm/năm. Rễ cây phát triển mạnh, có khả năng chống chịu gió bão tốt, phù hợp với địa hình đồi núi dốc của vùng Đông Bắc.

1.2. Giá trị kinh tế và tiềm năng phát triển rừng Sa mộc

Gỗ Sa mộc thuộc nhóm gỗ có giá trị kinh tế cao. Thớ gỗ thẳng, mịn, có mùi thơm đặc trưng, ít bị mối mọt. Gỗ được dùng trong xây dựng nhà ở, đóng đồ nội thất, làm ván sàn và nguyên liệu giấy. Nhu cầu gỗ lớn ngày càng tăng trong khi nguồn cung hạn chế thúc đẩy việc nghiên cứu trồng rừng thâm canh. Rừng Sa mộc thâm canh có chu kỳ kinh doanh 15–25 năm, cho phép sản xuất gỗ lớn đường kính trên 20 cm, mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội so với rừng gỗ nhỏ thông thường.

II. Phân tích lập địa và điều kiện sinh thái phù hợp cho Sa mộc vùng Đông Bắc Bộ

Xác định lập địa phù hợp là yếu tố nền tảng để trồng rừng thâm canh Sa mộc đạt hiệu quả cao. Vùng Đông Bắc Bộ có địa hình phức tạp, khí hậu đa dạng, đòi hỏi phân tích kỹ lưỡng các yếu tố đất đai, độ ẩm và nhiệt độ. Nghiên cứu trong luận án đã điều tra, đánh giá hệ thống rừng trồng Sa mộc hiện có tại các địa điểm Thanh Sơn, Ba Chẽ (Quảng Ninh) và Si Ma Cai (Lào Cai). Kết quả phân tích cho thấy Sa mộc sinh trưởng tốt nhất trên đất feralit phát triển từ đá sa thạch, phiến thạch, có độ dày tầng đất trên 50 cm, thành phần cơ giới thịt trung bình đến thịt nặng. Độ pH đất thích hợp dao động từ 4,5 đến 5,5. Hàm lượng mùn và đạm tổng số trong đất ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ sinh trưởng của cây. Những khu vực đất thoái hóa, nghèo dinh dưỡng cần bổ sung phân bón hữu cơ trước khi trồng. Nghiên cứu đã xây dựng bản đồ phân hạng lập địa, phân loại vùng trồng thành ba cấp thích nghi, phục vụ quy hoạch vùng trồng rừng Sa mộc thâm canh quy mô lớn tại Đông Bắc Bộ.

2.1. Các yếu tố đất đai và địa hình ảnh hưởng đến sinh trưởng Sa mộc

Tầng đất dày, thoát nước tốt là điều kiện tiên quyết để Sa mộc phát triển. Nghiên cứu tại Ba Chẽ và Thanh Sơn cho thấy cây trồng trên đất có độ dày trên 70 cm tăng trưởng đường kính nhanh hơn 25–30% so với đất mỏng dưới 30 cm. Độ dốc địa hình dưới 25° được xác định là phù hợp nhất. Sườn đồi hướng Bắc và Đông Bắc có độ ẩm đất cao hơn, giúp cây sinh trưởng ổn định trong mùa khô. Đất có hàm lượng mùn trên 2% hỗ trợ bộ rễ phát triển mạnh và tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng.

2.2. Điều kiện khí hậu và lượng mưa thích hợp cho rừng thâm canh

Vùng Đông Bắc Bộ có lượng mưa trung bình 1400–2000 mm/năm, phù hợp với nhu cầu sinh thái của Sa mộc. Nhiệt độ trung bình năm dao động 18–22°C, có mùa đông lạnh rõ rệt giúp cây phát triển các đặc tính gỗ đặc trưng. Sương mù và độ ẩm không khí cao vào mùa đông tạo điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng chiều cao. Tuy nhiên, sương muối ở độ cao trên 1000 m có thể gây hại cho cây non dưới 2 tuổi. Lựa chọn thời điểm trồng vào đầu mùa mưa tháng 4–5 giúp cây con vượt qua giai đoạn stress nhiệt hiệu quả.

III. Phương pháp nhân giống và kỹ thuật trồng rừng thâm canh Sa mộc

Kỹ thuật nhân giống và trồng rừng là hai cấu phần kỹ thuật cốt lõi quyết định thành công của mô hình thâm canh. Nghiên cứu đã xây dựng quy trình nhân giống hoàn chỉnh bằng cả hai phương pháp: giâm hom và gieo ươm từ hạt. Hạt giống được thu từ các cây trội tại rừng giống Sa mộc chuyển hóa ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai. Đây là nguồn vật liệu giống chất lượng cao, đảm bảo tính di truyền ổn định. Quy trình giâm hom yêu cầu duy trì tính trẻ hóa của cây mẹ. Cây mẹ được cắt sát gốc để kích thích đâm chồi mới. Hom giâm có tỷ lệ ra rễ trên 90% khi áp dụng kỹ thuật đúng chuẩn. Cây con 1 năm tuổi đạt chiều cao khoảng 35 cm và đường kính 0,6 cm là đủ tiêu chuẩn xuất vườn. Mật độ trồng ban đầu 1660 cây/ha (3 × 2 m) được khuyến nghị cho mục tiêu sản xuất gỗ lớn. Phân bón lót NPK kết hợp phân vi sinh hữu cơ được áp dụng tại hố trồng. Tỉa thưa định kỳ sau năm thứ 5–7 giúp tạo không gian sinh trưởng tối ưu cho cây mục đích.

3.1. Quy trình nhân giống Sa mộc bằng phương pháp giâm hom

Vườn cây mẹ được thiết lập với cự ly 0,2 × 0,35 m, cho phép thu hoạch 14–20 hom/cây ở năm thứ nhất và 40–50 hom/cây ở năm thứ ba. Hom được cắt vào tháng 2–3 vào ngày râm mát hoặc có mưa nhỏ. Sau khi giâm, tưới đủ ẩm và dựng giàn che 70% ánh sáng. Vườn cây mẹ được trẻ hóa hàng năm vào tháng 7–8 bằng cách tỉa cành và kiểm soát chiều cao dưới 0,5 m. Khoảng 90 ngày sau cắt trẻ hóa, cây đã cho chồi mới đủ tiêu chuẩn giâm hom. Tỷ lệ ra rễ đạt trên 90% với kỹ thuật xử lý IBA nồng độ phù hợp.

3.2. Kỹ thuật làm đất trồng và chăm sóc rừng thâm canh

Làm đất toàn diện hoặc theo băng kết hợp cuốc hố kích thước 40 × 40 × 40 cm. Phân bón lót mỗi hố gồm 0,2 kg NPK và 2 kg phân vi sinh hữu cơ. Trồng dặm trong tháng đầu để đảm bảo tỷ lệ sống trên 95%. Chăm sóc năm 1–3 gồm phát dọn thực bì, xới xáo và bón thúc mỗi năm hai lần. Tỉa cành tạo tán từ năm thứ 4 giúp gỗ phát triển thẳng và giảm mấu. Tỉa thưa lần đầu vào năm thứ 5–6 hạ mật độ xuống còn 900 cây/ha, tỉa lần hai vào năm 10–12 giữ lại 400–500 cây/ha cho giai đoạn khai thác gỗ lớn.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn trồng rừng Sa mộc vùng Đông Bắc

Sau 5 năm thực hiện nghiên cứu, luận án đã cung cấp hệ thống cơ sở khoa học toàn diện phục vụ sản xuất rừng trồng Sa mộc thâm canh. Kết quả điều tra rừng trồng hiện có xác định các mô hình sinh trưởng đặc trưng theo lập địa và mật độ. Mô hình thí nghiệm tại Ba Chẽ (Quảng Ninh) và Thanh Sơn cho thấy Sa mộc có tăng trưởng đường kính bình quân 1,5–2,0 cm/năm và chiều cao 1,2–1,8 m/năm trong điều kiện thâm canh. Phương pháp chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn thông qua tỉa thưa điều chỉnh mật độ được xác định là giải pháp hiệu quả nhất về kinh tế. Ứng dụng mô hình thâm canh dự kiến cho phép thu hoạch gỗ lớn đường kính trên 20 cm vào năm 18–20, tăng giá bán gỗ lên 2–3 lần so với gỗ nhỏ. Hệ thống kỹ thuật được đề xuất bao gồm: chọn lập địa, sử dụng giống chất lượng cao, áp dụng phân bón và chăm sóc đúng quy trình, tỉa thưa đúng thời điểm. Đây là nền tảng kỹ thuật để mở rộng vùng trồng rừng thâm canh Sa mộc cung cấp gỗ lớn tại các tỉnh Đông Bắc Bộ.

4.1. Đánh giá hiệu quả sinh trưởng và năng suất rừng trồng thâm canh

Các ô thí nghiệm thâm canh với mật độ 1660 cây/ha và bón phân đầy đủ cho tăng trưởng đường kính vượt 30–40% so với trồng quảng canh không bón phân. Sau 10 năm, trữ lượng gỗ đạt 120–150 m³/ha ở lập địa tốt, so với 70–90 m³/ha ở rừng thông thường. Tỉa thưa đúng kỹ thuật giúp cây mục đích tăng trưởng đường kính nhanh hơn 40% sau mỗi lần tỉa. Năng suất gỗ dự kiến cuối chu kỳ 20 năm đạt 200–250 m³/ha ở điều kiện lập địa tốt và thâm canh đầy đủ.

4.2. Khuyến nghị chính sách và định hướng mở rộng vùng trồng Sa mộc

Nghiên cứu khuyến nghị ưu tiên trồng rừng Sa mộc thâm canh tại các tiểu vùng có lập địa cấp I và II theo bản đồ phân hạng lập địa được xây dựng. Cần thiết lập hệ thống vườn giống đầu dòng cung cấp hom và hạt chất lượng cao cho các tỉnh trong vùng. Hỗ trợ kỹ thuật cho các chủ rừng trong áp dụng quy trình tỉa thưa định kỳ là yếu tố then chốt. Liên kết chuỗi giá trị từ trồng rừng đến chế biến và tiêu thụ gỗ lớn cần được thúc đẩy thông qua chính sách hỗ trợ của nhà nước và doanh nghiệp lâm nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng thâm canh sa mộc cunninghamia lanceolata lamb hook

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về Sa mộc trên thế giới 1. Đặc điểm phân loại, hình thái, công dụng của Sa mộc Sa mộc (Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook), thuộc họ Bụt mọc (Taxodiaceace). Chi Cunninghamia có 2 loài gồm Cunninghamia lanceolata và C.

konishi có kích thước nhỏ hơn C. Sa mộc là cây gỗ lớn, thường xanh, sinh trưởng nhanh, sản lượng cao, chất lượng gỗ tốt. Cây có thân thẳng, tròn, có thể cao tới 50 m, đường kính đạt tới 3 m, tán lá màu xanh đậm, hình kim tự tháp hoặc hình nón. Vỏ xám sẫm đến nâu sẫm hoặc đỏ nhạt, nứt không đều, có mùi thơm.

Cành mọc xoắn quanh thân, phân cành ngang. Lá dày, cứng mọc hình xoắn ốc thành 2 hàng, thẳng hoặc cong hình lưỡi liềm, dài 0,8-6,5 cm; rộng 1,5-5 mm. Hạt có kích thước 12x8 mm, khi non màu xanh, khi chín chuyển sang màu nâu đỏ, hình trứng hoặc hình cầu. Mỗi vảy có 3 hạt, hạt có cánh nhỏ.

Cây 6-8 tuổi bắt đầu ra nón vào tháng 2 đến tháng 5, nón chín từ cuối tháng 8 đến tháng 11 (Thực vật chí Trung Quốc, 1982) [90]. Gỗ Sa mộc mềm nhưng bền, thớ thẳng, màu trắng đến vàng nhạt. Khối lượng thể tích gỗ 0,4-0,5 g/cm3. Được sử dụng trong xây dựng, cột, cầu, thuyền, phương tiện vận tải, đồ gia dụng và làm củi đun rất tốt.

Tại Trung Quốc, gỗ Sa mộc chiếm 20-30% sản lượng gỗ thương mại. Vỏ Sa mộc dùng sản xuất tannin, cành nhỏ dùng để chiết xuất tinh dầu làm nước hoa. Các sản phẩn từ cây Sa mộc có thể làm thuốc trị các vết thâm tím trên cơ thể, thuốc giảm đau và trị vết thương (Chang và cộng sự, 1988) [31]. Sa mộc có dáng đẹp, khả năng chống sâu bệnh tốt nên được dùng để trồng rừng trong vùng á nhiệt đới, được dùng trong hệ thống nông lâm kết hợp với các 7 loài Ngô, Đậu, Lúa mì, Khoai tây, Lạc, Thuốc lá, Lúa nương hay trồng hỗn giao với các loài cây đa tác dụng như Trẩu, Sở, trồng làm cảnh quan trên đường phố, công viên (Chang và cộng sự, 1988) [31].

Sa mộc đã được trồng làm cảnh quan ở một số nước Châu Âu, Vương Quốc Anh và Mỹ, tuy nhiên khi trồng thành rừng tập trung thì không thành công do chúng không thích ứng với điều kiện khí hậu ở đó (FAO, 1982) [49]. Với rừng trồng Sa mộc ở độ tuổi 34, 22 và 10, sinh khối lượng cành, lá khô hàng năm lần lượt là 4,88 (± 0,21), 3,73 (± 0,21) và 3,29 (± 0,36) tấn/ha/năm. Như vậy, tổng chất dinh dưỡng trả lại đất hàng năm của rừng trồng Sa mộc liên quan đến Cacbon (1,12-2,71 tấn/ha/năm), N (39,32 - 62,04 kg/ha/năm), K (15,95 - 22,44 kg/ha/năm), và P (1,30-1,63 kg/ha/năm) (Zhou T., và cộng sự, 2009) [87]. Ngoài ra, dinh dưỡng trong đất thay đổi từ điều kiện hạn chế đạm sang điều kiện hạn chế lân (Li và cộng sự, 2020) [74].

Nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO 2 của rừng trồng Sa mộc tại Lào cho thấy khả năng hấp thụ CO2 của rừng Sa mộc tuổi 5 đạt 3,009 tấn/ha; ở tuổi 7 đạt 5,581 tấn/ha; ở tuổi 8 đạt 6,167 tấn/ha và đạt 6,687 tấn/ha đối với rừng tuổi 11 (Chen, Wang và cộng sự 2017) [41]. Nghiên cứu thành phần hóa học của các chất chiết xuất từ Sa mộc đã được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu trong vài thập kỷ trở lại đây (Zhou T., và cộng sự, 2009) [87]. Tinh dầu của Sa mộc, ngay cả khi ở nồng độ thấp đã có thể kháng nấm, chống lại hai loại nấm gây thối trắng, Trametes versicolor và Irpex lacteus (He, Kang, Wang, 2015) [53]. Ngoài tinh dầu, chiết xuất thực vật của Sa mộc còn có cồn thô (APE) với protein (17,7 mg mL-1), flavonoid (2,35 mg mL-1) và phenol (0,19 mg mL-1).

APE thô này từ Sa mộc được phát hiện như một chất chống oxy hóa tự nhiên và kháng khuẩn mạnh với hàm lượng protein, flavonoid và phenolics cao (Jyoti và cộng sự, 2018) [61]. Nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái, lập địa trồng 8 rừng Sa mộc Gần đây, cây Sa mộc đã được ghi nhận như một loài thực vật được du nhập đến nhiều nước trên thế giới, loài cây này được trồng chủ yếu để làm cây xanh đường phố và cây cảnh trong vườn nhà. Bên cạnh những nghiên cứu của các nhà khoa học đến từ Trung Quốc, có một số nghiên cứu học thuật liên quan đến trồng rừng Sa mộc sản xuất đã có ở Newzealand (Fung, 1993) [51]; và ở Brazil (Caieiras, 1982) [29]. Sa mộc có phân bố ở Trung Quốc, Việt Nam, Lào và được trồng rộng rãi ở Nhật Bản (Dallimore và cộng sự, 1931) [43].

Phân bố tự nhiên của Sa mộc ở khu vực á nhiệt đới, trong phạm vi 21041’-34003’ vĩ độ Bắc và 101045’-121053’ kinh độ Đông. Ở Trung Quốc, Sa mộc phân bố ở lưu vực sông Dương Tử, Tần Lĩnh và khu vực phía Nam. Đây là khu vực gây trồng rộng nhất và cây sinh trưởng nhanh nhất. Phân bố theo độ cao ở mỗi khu vực có khác nhau: như tại khu vực núi Đại Biệt ở phía Đông phân bố ở độ cao 700 m (so với mặt nước biển) trở xuống, khu vực núi Đới Vân của tỉnh Phúc Kiến phân bố ở độ cao 1.000 m trở xuống, khu vực núi Nga Mi ở tỉnh Tứ Xuyên phân bố từ 1.800 m trở xuống và ở Đại Lý tỉnh Vân Nam phân bố ở độ cao 2.

Sa mộc phân bố tự nhiên ở khu vực khí hậu cận á nhiệt đới có độ ẩm cao, khu vực ấm áp, có lượng mưa nhiều, nhiệt độ trung bình năm từ 15 ÷ 230C, tháng 1 có nhiệt độ trung bình từ 0 ÷ 150C, Sa mộc có thể chịu lạnh đến nhiệt độ -170C, mùa Hè (tháng 7, 8, 9) nhiệt độ bình quân có thể vượt quá 300C, thậm chí có ngày cao nhất còn vượt quá 400C. Hoạt động sinh trưởng, phát triển của Sa mộc diễn ra khi nhiệt độ từ 150C trở lên, nhiệt độ thích hợp nhất từ 20-260C. Sa mộc phân bố chủ yếu ở khu vực có lượng mưa 1. Sa mộc xuất hiện cả ở rừng tự nhiên rụng lá và rừng thường xanh (Thực vật 9 chí Trung Quốc, 1982) [90].

Cả hai kiểu rừng, các cây lá rộng hỗn giao đều có thể là những cây tầng cao, như vậy có thể thấy Sa mộc không phải là loài mọc đơn loài. Tại huyện An Cát, tỉnh Chiết Giang, hầu hết rừng tre đều lẫn với Sa mộc và Thông mã vĩ (WCSP, 1827) [79]. Tương tự, một số tài liệu khác cũng chỉ ra rằng, rất ít trường hợp Sa mộc xuất hiện rừng thuần loài trong tự nhiên (Menzies, 1988) [73]. Bản đồ khu vực trồng rừng Sa mộc trên thế giới (Nguồn: https://www.org/) Sa mộc đã được trồng phổ biến ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt là Trung Quốc, Đài Loan.

Ở Trung Quốc, Sa mộc được trồng từ những năm 300 sau Công nguyên (Menzies, 1988) [73]. Sa mộc được trồng thành rừng với diện tích lớn từ năm 843 sau Công nguyên và việc quản lý rừng trồng được bắt đầu từ cuối thế kỷ 12 đến thế kỷ 15 (Menzies, 1988) [73]. Nghiên cứu về lịch sử trồng Sa mộc cho rằng, loài này đã được trồng ở Trung Quốc dưới thời nhà Minh (năm 1368-1644) và có thể còn ngay cả trước đó ở thời nhà Hán (năm 206 10 trước Công nguyên đến 220 sau Công nguyên).2: Khu vực trồng rừng Sa mộc tại Trung Quốc (Yuhao Lu, 2015) Ở Trung Quốc, Sa mộc được người dân gây trồng trên 1000 năm và kỹ thuật trồng đã đạt đến trình độ phát triển cao; là loài cây trồng lâm nghiệp quan trọng, diện tích chiếm tới 50% ở một số tỉnh và được trồng ở 16 trong số 21 tỉnh của Trung Quốc, với biên độ từ 22-34o vĩ độ Bắc, 102-122o kinh độ Đông (FAO, 1982) [49]. Hiện nay, tổng diện tích trồng Sa mộc chiếm tới 30% diện tích rừng trồng ở Trung Quốc, với hơn 9 triệu ha, chủ yếu ở miền Nam Trung Quốc, trữ lượng gỗ chiếm khoảng ¼ tổng lượng gỗ thương mại của Trung Quốc (Lei, 2015) [67].

Hàng năm Trung Quốc trồng mới khoảng 700.000 ha Sa mộc (Zhou và cộng sự, 2016) [87]. Sa mộc có thể chịu được sương giá, nhưng tới ngưỡng nhiệt độ -15oC cây non có thể bị chết. Sa mộc xuất hiện nơi có nhiệt độ trung bình trong khoảng 12 - 23oC, lượng mưa dao động từ 660 -2.450 mm, độ cao từ 1. Sa 11 mộc thích hợp với 3 loại đất ở vùng núi là đất nâu vàng, đất đỏ vàng và đất đỏ.

Sa mộc cũng ưa đất tốt, đất cát đen, đất sét vàng, đất vàng đỏ đến lẫn đá, thích nghi với các loại đất có độ pH khá rộng, thường là pH 4-5, tuy nhiên nơi pH đến 7-8 vẫn có thể sinh trưởng (Yin và cộng sự, 2010) [85]. Cũng có tài liệu ghi nhận Sa mộc thích hợp với nơi có đất thịt, thoát nước tốt, độ pH từ 4,7-6,4, tỷ lệ C/N từ 6,8 đến 16 [91]. Trên thế giới, đã có hàng chục bài báo được xuất bản bằng tiếng Anh, phân tích về ảnh hưởng của các nhân tố lập địa đến rừng trồng Sa mộc. Một nghiên cứu về sinh trưởng của hai loài hạt trần (P.

lanceolata) trong rừng trồng hỗn giao thứ cấp giải thích rằng Sa mộc (C. lanceolata) có khả năng sinh trưởng thân cây tốt hơn trong điều kiện bóng râm (Cheng và cộng sự, 2013) [40]. Trong hệ sinh thái tự nhiên, có nhiều nhân tố tương tác với nhau và tác động đến từng cá thể cũng như cả quần thể thực vật. Hàng chục nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra các nhân tố ảnh hưởng đến rừng trồng Sa mộc.

Đầu tiên, là nhiệt độ trung bình năm tăng lên đã thúc đẩy khả năng sinh trưởng của quần thể Sa mộc tốt hơn. Bên cạnh đó, khả năng nảy mầm của hạt Sa mộc được lấy từ quần thể phía Nam, khi nảy mầm đã thích nghi tốt hơn với nhiệt độ cao so với cây con nảy mầm từ hạt được lấy từ quần thể Sa mộc trồng ở khu vực phía Bắc (Zhou và cộng sự, 2016) [87]. Tiếp đó, địa hình được khẳng định là nhân tố ảnh hưởng chủ đạo đến chiều cao vút ngọn của cây Sa mộc. Theo đó, độ cao so với mực nước biển có ảnh hưởng nhiều nhất đến sinh trưởng chiều cao vút ngọn, sau đó đến loại đất và độ dốc (Xu và cộng sự, 2019) [84].

Cấu trúc tán của cây Sa mộc cho sinh khối lá tương đương với sự gia tăng thể tích ngọn (Xu và cộng sự, 2019) [84]. Hiệu suất tự tỉa thưa tự nhiên của Sa mộc và giá trị tạm thời của quá trình tự tỉa thưa là -1,5.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ