Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu sinh học và kỹ thuật trồng rừng Chiêu liêu nước (Terminalia calamansanai) tại Đông Nam Bộ

Nghiên cứu chi tiết về đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng rừng Chiêu liêu nước. Hướng dẫn phương pháp canh tác, quản lý cây trồng hiệu quả.

Chuyên ngành

Lâm sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

195
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về loài cây chiêu liêu nước tại Đông Nam Bộ

Chiêu liêu nước (Terminalia calamansanai (Blanco) Rolfe) là loài cây gỗ lớn mọc nhanh, thuộc họ Bàng (Combretaceae), phân bố tự nhiên tại vùng Đông Nam Bộ và một số tỉnh miền Trung Việt Nam. Loài cây này có giá trị kinh tế cao, gỗ cứng, thẳng thớ, được ứng dụng rộng rãi trong xây dựng và đồ mộc. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Minh (2021) tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng rừng chiêu liêu nước tại khu vực này. Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2014 đến 2020, với sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Thế Dũng và TS. Giang Văn Thắng. Địa bàn nghiên cứu bao gồm Vườn Quốc gia Lò Gò Xa Mát, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai và Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Lâm nghiệp Đông Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác phát triển rừng gỗ lớn tại vùng Đông Nam Bộ, góp phần vào chương trình trồng rừng quốc gia và bảo tồn đa dạng sinh học.

1.1. Phân loại và phân bố tự nhiên của chiêu liêu nước

Chiêu liêu nước có tên khoa học Terminalia calamansanai (Blanco) Rolfe, thuộc chi Terminalia, họ Combretaceae. Loài này phân bố chủ yếu ở các tỉnh Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương và một số tỉnh miền Trung như Gia Lai, Ninh Thuận, Kiên Giang. Cây thường mọc trong rừng thứ sinh, rừng hỗn giao trên đất đỏ bazan hoặc đất xám. Chiều cao trưởng thành đạt 25-35 m, đường kính thân từ 50-80 cm. Phân bố tự nhiên tập trung ở độ cao dưới 600 m so với mực nước biển, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ.

1.2. Giá trị kinh tế và sinh thái của loài chiêu liêu nước

Gỗ chiêu liêu nước thuộc nhóm IV theo phân loại gỗ Việt Nam, có độ cứng cao, khả năng chống mối mọt tốt, thích hợp làm đồ nội thất, ván sàn và vật liệu xây dựng. Về mặt sinh thái, đây là loài cây tiên phong phục hồi rừng, có khả năng che phủ nhanh, bảo vệ đất chống xói mòn. Tốc độ tăng trưởng đường kính bình quân đạt 1,5-2 cm/năm trong điều kiện lập địa phù hợp. Loài cây này còn cung cấp nguồn thức ăn cho nhiều loài động vật hoang dã, góp phần duy trì đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng nhiệt đới vùng Đông Nam Bộ.

II. Đặc điểm sinh học và cấu trúc rừng chiêu liêu nước

Nghiên cứu đặc điểm sinh học chiêu liêu nước được thực hiện toàn diện, bao gồm hình thái học, sinh lý sinh thái, tái sinh tự nhiên và cấu trúc quần thể. Kết quả phân tích cấu trúc tổ thành rừng tự nhiên có chiêu liêu nước cho thấy đây là loài ưu thế tại nhiều lâm phần Đông Nam Bộ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng chỉ số IVI% (Important Value Index) để xác định mức độ ưu thế, kết hợp với phân tích phân bố N/D và N/H. Tái sinh tự nhiên của chiêu liêu nước đạt mật độ cao ở nơi có độ tàn che từ 0,3 đến 0,6, với số lượng cây tái sinh chất lượng tốt chiếm trên 60%. Đặc điểm vật hậu học cho thấy cây ra hoa vào tháng 2-3, kết quả tháng 5-7 hàng năm. Hạt có khả năng nảy mầm cao trong vòng 30 ngày sau thu hái. Các kết quả này là nền tảng khoa học để xây dựng quy trình nhân giống và trồng rừng hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn tại Đông Nam Bộ.

2.1. Cấu trúc tổ thành và tái sinh tự nhiên của chiêu liêu nước

Cấu trúc tổ thành rừng tự nhiên có chiêu liêu nước được đánh giá thông qua chỉ số IVI%, phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu lâm học Việt Nam từ thời Thái Văn Trừng. Kết quả điều tra tại các ô tiêu chuẩn cho thấy chiêu liêu nước thường xuất hiện cùng với các loài họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae), Bằng lăng (Lagerstroemia) và Cẩm lai (Dalbergia). Mật độ tái sinh tự nhiên đạt 3.000-5.000 cây/ha tại lâm phần có cây mẹ. Tỷ lệ cây tái sinh triển vọng chiếm 45-65% tổng số cây tái sinh, phân bố tương đối đều theo không gian.

2.2. Đặc điểm sinh trưởng và tăng trưởng của chiêu liêu nước

Chiêu liêu nước là loài cây gỗ lớn mọc nhanh, tăng trưởng đường kính bình quân năm đạt 1,8-2,2 cm trong 10 năm đầu. Tăng trưởng chiều cao bình quân đạt 1,5-2 m/năm ở giai đoạn rừng non. Tốc độ tăng trưởng phụ thuộc mạnh vào điều kiện lập địa, đặc biệt là độ ẩm đất và độ màu mỡ. Rừng trồng chiêu liêu nước tại Đông Nam Bộ có thể đạt chu kỳ khai thác 15-20 năm với đường kính mục tiêu 25-30 cm, cho sản lượng gỗ thương phẩm từ 120-180 m³/ha, cao hơn đáng kể so với nhiều loài cây trồng rừng thương mại khác trong khu vực.

III. Kỹ thuật chọn giống và trồng rừng chiêu liêu nước

Chương trình chọn giống chiêu liêu nước áp dụng tiêu chuẩn ngành 04-TCN-147-2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Cây trội được chọn từ rừng tự nhiên theo hệ thống chấm điểm toàn diện gồm các tiêu chí: hình dạng thân cây, chất lượng gỗ, tán lá, cành nhánh, sức sống và khả năng kháng sâu bệnh. Tổng điểm đạt tối thiểu 70/100 điểm mới được công nhận cây trội. Khoảng cách giữa hai cây mẹ tối thiểu là 100 m để đảm bảo đa dạng di truyền. Khảo nghiệm xuất xứ kết hợp khảo nghiệm hậu thế được xây dựng với 42 gia đình từ 5 xuất xứ địa lý: Kiên Giang (10 gia đình), Đồng Nai (19 gia đình), Gia Lai (5 gia đình), Ninh Thuận (4 gia đình) và Tây Ninh (4 gia đình). Kết quả khảo nghiệm xác định được xuất xứ và gia đình vượt trội, làm cơ sở xây dựng vườn giống phục vụ trồng rừng sản xuất quy mô lớn tại vùng Đông Nam Bộ.

3.1. Tiêu chí chọn cây trội và xây dựng vườn giống chiêu liêu nước

Quy trình chọn cây trội chiêu liêu nước tuân thủ Quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống QPN/15-93. Hệ thống chấm điểm gồm nhiều tiêu chí chi tiết: thân cây thẳng đạt 10-20 điểm, thớ thẳng 4-5 điểm, bạnh vè dưới 0,5 m đạt 7-9 điểm. Tiêu chí tán lá đánh giá hình dạng và độ cân đối. Chất lượng cành nhánh xét đến kích thước, góc phân cành và số vòng cành trong 8 m thân dưới. Cây được chọn phải có sức sống tốt, không có sâu bệnh hại nghiêm trọng và ra hoa kết quả đều đặn. Tổng điểm đạt từ 70 điểm trở lên mới đủ tiêu chuẩn công nhận cây trội làm nguồn vật liệu giống.

3.2. Kỹ thuật trồng rừng chiêu liêu nước trên các dạng lập địa

Kỹ thuật trồng rừng chiêu liêu nước được xây dựng cho các dạng lập địa chủ yếu ở Đông Nam Bộ, gồm đất đỏ bazan, đất xám phù sa cổ và đất ferralit. Mật độ trồng khuyến nghị là 1.000-1.600 cây/ha tùy mục tiêu kinh doanh. Phương thức trồng thuần loài hoặc hỗn giao với cây bản địa khác. Tiêu chuẩn cây con xuất vườn yêu cầu chiều cao tối thiểu 25 cm, đường kính cổ rễ trên 3 mm, bộ rễ phát triển tốt. Thời vụ trồng tốt nhất là đầu mùa mưa tháng 5-6 tại Đông Nam Bộ, đảm bảo tỷ lệ sống trên 90% sau trồng.

IV. Kết luận và ứng dụng kết quả nghiên cứu chiêu liêu nước

Luận án tiến sĩ về chiêu liêu nước đã cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học toàn diện về đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng rừng loài cây này tại vùng Đông Nam Bộ. Các kết quả nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, trực tiếp phục vụ công tác phát triển lâm nghiệp bền vững. Quy trình chọn giống và trồng rừng được xây dựng từ nghiên cứu này đã được áp dụng tại các đơn vị lâm nghiệp tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh. Chiêu liêu nước được xác định là loài cây ưu tiên trong chương trình trồng rừng gỗ lớn quốc gia giai đoạn 2021-2030. Hướng phát triển tiếp theo bao gồm mở rộng khảo nghiệm giống ra các vùng sinh thái mới, nghiên cứu chế độ tỉa thưa tối ưu và đánh giá tổng hợp hiệu quả kinh tế-sinh thái rừng trồng chiêu liêu nước theo chu kỳ dài. Đây là nền tảng để phát triển ngành lâm nghiệp gỗ lớn bền vững tại khu vực Đông Nam Bộ trong những thập kỷ tới.

4.1. Đóng góp khoa học mới của luận án về chiêu liêu nước

Luận án có một số đóng góp khoa học mới quan trọng. Lần đầu tiên mô tả đầy đủ và hệ thống đặc điểm sinh học, sinh thái của chiêu liêu nước tại Đông Nam Bộ dựa trên số liệu thực nghiệm. Xác định được các xuất xứ và gia đình chiêu liêu nước vượt trội về sinh trưởng và chất lượng gỗ thông qua khảo nghiệm đa địa điểm. Xây dựng quy trình kỹ thuật trồng rừng phù hợp với từng dạng lập địa đặc trưng vùng Đông Nam Bộ. Các kết quả này lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về loài cây bản địa quan trọng, đồng thời cung cấp dữ liệu nền cho các nghiên cứu lâm học tiếp theo trong khu vực.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và định hướng phát triển rừng chiêu liêu nước

Kết quả nghiên cứu chiêu liêu nước được ứng dụng trực tiếp trong xây dựng chính sách phát triển lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ. Quy trình kỹ thuật được chuyển giao cho các Ban quản lý rừng phòng hộ và doanh nghiệp lâm nghiệp tại Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương. Tiềm năng mở rộng diện tích trồng chiêu liêu nước ước tính trên 50.000 ha đất lâm nghiệp phù hợp tại Đông Nam Bộ. Loài cây này được đưa vào danh mục cây trồng rừng gỗ lớn được khuyến khích trong các chương trình hỗ trợ của nhà nước. Phát triển rừng chiêu liêu nước góp phần đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu trong nước, giảm áp lực nhập khẩu gỗ và tăng thu nhập bền vững cho người trồng rừng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng rừng chiêu liêu nước

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về kết cấu loài cây gỗ Khi nghiên cứu về rừng, nhà lâm học quan tâm đến thành phần loài cây gỗ, vai trò và tính ổn định của chúng trong quần xã thực vật. Nhiều nhà lâm học (Richards, 1952; Baur, 1961) [40], [1], cho rằng mỗi kiểu rừng được hình thành bởi những loài cây khác nhau.

Vì thế, khi phân tích tổ thành rừng, cần phải xác định tên loài cây và tỷ lệ của mỗi loài. Dựa vào những loài cây hình thành rừng, Richards (1952) [40] đã phân chia rừng mưa nhiệt đới thành 2 nhóm. Nhóm 1 là rừng mưa hỗn hợp với nhiều loài cây ưu thế và đồng ưu thế. Nhóm 2 là rừng mưa đơn ưu thế.

Theo Richards (1968) [41], tổ thành thực vật của rừng nhiệt đới ẩm ở Đông Nam Á thường có một nhóm loài chiếm ưu thế đến 50% quần thụ. Đó là những loài cây gỗ của họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae). Trong tổ thành rừng mưa nhiệt đới, có hơn 40 loài cây gỗ trên mỗi hecta. Trong sinh thái học và lâm học, vai trò của các loài cây gỗ trong quần xã thực vật rừng (QXTV) có thể được xác định theo nhiều phương pháp khác nhau do Curtis và McIntosh (1951 đề xuất đã sử dụng thuật ngữ chỉ số giá trị quan trọng của loài IVI%) để biểu thị cho vai trò của loài trong QXTV.

Chỉ số IVI% được tính bằng tổng hoặc giá trị trung bình của ba tham số: độ thường gặp tương đối (F%), mật độ tương đối (N%) và tiết diện ngang thân cây tương đối (G%) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2010) [48]. Chỉ số IVI được xác định theo hai phương pháp kể trên có nhược điểm là nó thay đổi tùy theo kích thước và số lượng ô mẫu. Khi số lượng ô mẫu lớn, thì việc tính chỉ tiêu F sẽ gặp khó khăn (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2010) [48], 6 Khi nghiên cứu về cấu trúc và tổ thành thực vật sau tác động của con người và sự xâm lấn của thực vật Addo-Fordjour và cs (2009) [58] đã thiết lập ngẫu nhiên 3 ô tiêu chuẩn (50 x 50 m), tương ứng với 3 khu rừng tại khu bảo tồn Tinte Bepo cho thấy có 108 loài thực vật thuộc 37 họ, 77 chi và 88 dạng sống được tìm thấy trong tất cả các khu rừng, trong đó loài Celtis mildbraedii. Eng và Triplochiton scleroxylon K.Shum là loài chiếm ưu thế.

Khi nghiên cứu sự đa dạng các loài thực vật và đặc điểm cấu trúc của rừng ở Vườn Quốc gia Dulhazara Safari của Bangladesh, Mijan Uddin và Misbahuzzanman (2007) [80] đã thống kê được 560 cá thể có đường kính D 1.3 >5 cm của 82 loài đại diện thuộc 31 họ và 62 chi, xác định được bốn tầng chính với các loài chiếm ưu thế khác nhau. Kết quả tính toán chỉ số IVI% của tác giả cho thấy, họ Dầu là họ chiếm ưu thế với loài Dầu bao (Dipterocarpus turbinatus). Nghiên cứu về tái sinh, vật hậu và hạt giống Tái sinh tự nhiên của rừng là một quá trình rất phức tạp. Khi nghiên cứu tái sinh rừng, người ta thường tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế.

Các nhà nghiên cứu cho rằng hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng ít nhiều đã bị biến đổi. Van Steenis (1956) [89] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng. Richards (1952) [40] đã tiến hành nghiên cứu tái sinh ở rừng mưa nhiệt đới và cho xuất bản cuốn “Rừng mưa nhiệt đới”.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tái sinh rừng mưa nhiệt đới vô cùng phức tạp, cây tái sinh tự nhiên chủ yếu có phân bố cụm một số khác có phân bố Poisson. Theo Ghent (1969) [71], tầng cây bụi thảm tươi có ảnh hưởng lớn đến quá trình tái sinh của loài cây gỗ 7 đồng thời thảm mục và chế độ thủy nhiệt tầng đất mặt đều có ảnh hưởng tới tái sinh tự nhiên ở mức độ khác nhau. Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ. Dưới những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của chúng đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể.

Ngược lại, ở những lâm phần rừng thưa hoặc đã qua khai thác thảm cỏ có điều kiện phát triển mạnh mẽ, khiến chúng trở thành nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973; dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [46]. Giáng hương ở Thái Lan nẩy chồi vào tháng 2-3, hoa nở và thụ phấn tháng 3-4, kết thúc thụ phấn vào đầu tháng 5 (Ramin và Owens, 1998) [85]. Quả Giáng hương hình thành từ tháng 5, quả chín vào tháng 10-11, khi đó cũng là lúc bắt đầu rụng (Coles và Boyle, 1999) [63]. Kết quả nghiên cứu về cây Cóc hành của Dorthe Jᴓker (2000) [67] cho thấy, thời gian ra hoa và kết quả của Cóc hành thay đổi giữa các địa phương.

Ở phía bắc Thái Lan, Cóc hành rụng lá vào tháng giêng tới tháng hai. Lá non mọc ngay khi lá già rụng, khi lá mới chuyển sang màu xanh cây bắt đầu ra hoa. Cóc hành ra hoa từ tuổi 6 đến tuổi 7. Hoa ra làm 2 đợt, đợt 1 vào khoảng tháng 2 và tập trung vào tháng 3, đợt 2 vào tháng 4 - 5.

Hoa có mùi thơm, dài từ 5,0 - 6,5 mm, rộng từ 1,5 - 2,5 mm và bông dài khoảng 4 mm. Nhụy chia thành ba lá noãn. Tóm lại, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng, tái sinh tự nhiên, vật hậu và hạt giống của các quần thể rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng trên thế giới rất phong phú. Nhiều công trình nghiên cứu đã đem 8 lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng.

Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững. Một số nghiên cứu về trồng rừng gỗ lớn bằng cây gỗ bản địa Theo Matti Leikola (1995) [77], các nhà lâm nghiệp đã biết thực hiện từ rất sớm trong các nghiên cứu chọn loài cây trồng rừng. Từ những thử nghiệm thăm dò đến khảo nghiệm loài và xuất xứ, các thí nghiệm được bố trí một cách nghiêm túc theo các nguyên tắc khoa học để từ đó chọn loài cây thích hợp cho mỗi vùng sinh thái. Ở một số nước đã có một số nghiên cứu xây dựng các mô hình toán để tối ưu cơ cấu cây trồng cho từng vùng.

Ở các nước vùng ôn đới số loài cây chính dùng trong trồng rừng thường không nhiều, nên người ta đã tìm hiểu mối quan hệ giữa cây và lập địa rất cụ thể, chi tiết cho từng loài riêng biệt. Khi nghiên cứu về trồng loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trong các mô hình rừng trồng, Matthew và cs (1995) [78] đã xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân gỗ với cây họ đậu. Kết quả cho thấy, cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính. Kết quả này cho thấy sử dụng các loài cây họ đậu làm cây phù trợ cho các loài cây trồng chính trong mô hình rừng trồng hỗn loài là rất phù hợp.

Ngoài việc xác định được loài cây phù trợ thích hợp thì việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của các loài cây cũng là vấn đề rất quan trọng khi xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài. Trong nghiên cứu trồng một số loài cây gỗ bản địa trong rừng thứ sinh Negeri Sembilan, Malaysia Affendy và cs, (2009) [59] đã trồng thử nghiệm thành công trên 42 ha với 5 loài cây gỗ bản địa nhằm kinh doanh gỗ lớn theo phương thức làm giàu rừng theo đám. Hashim và cs (2015) [72] đã đánh giá lại lịch sử trồng rừng của Malaysia cho biết, trước những năm 1980 chủ yếu trồng các loài Thông, sau thời kỳ này chuyển sang trồng một số loài cây mọc nhanh như Keo và Bạch 9 đàn và một số loài cây gỗ bản địa như Tếch, Dầu rái, Nhạc ngựa, Xà cừ, Cao su lấy gỗ. Các tác giả cũng cho biết trong chiến lược trồng rừng, Malaysia đã đề xuất nhiều loài cây cho từng loại rừng trồng theo các luân kỳ khác nhau.

Đối với luân kỳ ngắn từ 15 đến 25 năm, mật độ trồng ban đều từ 1.110 cây/ha đến 2.500 cây/ha, tỉa thưa 2 lần vào tuổi 4-6 và tuổi 15 cho các loài bản địa gỗ lớn mọc nhanh như Berembang bukit (Duabanga grandiflora), cây Vừng (Endospermum diadenum), cây Choại (Terminalia bellirica), Thục quỳ (Maesopsis eminii). Với luân kỳ ngắn, trung bình 45 năm đến 60 năm, thì chọn các loài ưa sáng, tỉa thưa 3 lần gồm một số loài họ Dầu như Dầu rái, Sao đen, một số loài Sến. Những nghiên cứu về chi Chiêu liêu và loài Chiêu liêu nước 1. Phân loại thực vật và đặc điểm hình thái Chi Terminalia là chi lớn thứ hai của họ Bàng (Combretaceae) với khoảng 200 loài cây gỗ và cây bụi.

Hầu hết các loài thuộc chi này đều là những cây gỗ lớn, đặc biệt có loài có chiều cao lên tới 75 m (Fahmy và cs, 2015) [70]. Theo các tài liệu mô tả về thực vật ở Trung Quốc (Flora of China, 2007) [93], đặc điểm chung của chi Chiêu liêu thường là cây lớn hiếm khi là cây bụi, cây gỗ thường xanh hoặc rụng lá. Cành mọc theo tầng, lá hình xoắn ốc, mọc đối hoặc mọc cách, ít khi mọc vòng, mép lá nguyên, đôi khi có răng cưa, gốc lá thường có tuyến. Phiến lá hình thuôn, hình elip hoặc ô van, có lông hoặc nhẵn, Cánh hoa 4 hoặc 5, hoa lưỡng tính.

Quả giả có múi hoặc có 2 đến 5 cánh, quả thịt hoặc quả khô có 1 hạt. Chiêu liêu nước có tên khoa học là Terminalia calamansanai (Blanco) Rolfe. Tên thương mại là Kwako, Yellow terminalia. Đây là cây gỗ thuộc chi Chiêu liêu, họ Bàng.

Ngoài ra, Chiêu liêu nước còn có tên khoa học khác là Gimbernaca calamansanai. Blanco; Petatera mollis.Presl; Terminalia blancoi. Mern; Terminalia latialata.White; Terminalia Papilio. Tuy nhiên, tên Terminalia calamansanai (Blanco) Rolfe vẫn được các 10 nhà khoa học sử dụng phổ biến (http://www.org /taxon/urn:lsid:ipni.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ