phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng, gồnm: - Chƣơng 1: Tổng quan về thực thi chính sách giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, miền núi - Chƣơng 2: Thực trạng thực thi chính sách giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, núi của thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 – 2020 - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, miền núi của thành phố Hà Nội giai đoạn 2021 - 2025 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ, MIỀN NÚI 1. Một số vấn đề lý luận về nghèo và giảm nghèo 1. Quan niệm về n hèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo 1. Quan niệm về nghèo – nghèo đa chiều * Quan niệm của một số tổ chức quốc tế về nghèo Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan niệm về nghèo đói đang đƣợc các quốc gia thừa nhận:Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.
Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không đƣợc đi học, không đƣợc đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không đƣợc tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không đƣợc tiếp cận nƣớc sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua). Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cƣ không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy đƣợc xã hội thừa nhận." * Quan niệm nghèo của Việt Nam - Quan niệm của Việt Nam về nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con ngƣời và có 9 mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện.
Căn cứ vào tình hình KT - XH cũng nhƣ mức thu nhập những năm qua, khái niệm nghèo ở Việt Nam đƣợc xác định nhƣ sau: Nghèo: là một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới ngƣỡng quy định của sự nghèo. Nhƣng ngƣỡng nghèo còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phƣơng; từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển KT - XH cụ thể của từng địa phƣơng hay từng quốc gia. - Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về XĐGN ở Việt Nam giai đoạn 1998 - 2000 đã đƣa ra các khái niệm về hộ nghèo, xã nghèo, vùng nghèo và các tiêu chí xác định cho từng loại cụ thể: Hộ nghèo: là hộ đói ăn nhƣng không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất. Xã nghèo: là xã có tỷ lệ nghèo cao, không có hoặc thiếu những CSHT thiết yếu nhƣ: điện, đƣờng, trƣờng, trạm, nƣớc sạch,.
trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao. Vùng nghèo: là địa bàn tƣơng đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao. Nghèo đói có nguồn gốc từ kinh tế và tồn tại phổ biến ở mọi quốc gia trong quá trình phát triển. Song hiện tƣợng nghèo đói mang bản chất kinh tế, xã hội phức tạp, không đơn thuần chỉ là vấn đề kinh tế, cho dù các yếu tố đánh giá nghèo, đói trƣớc hết và chủ yếu dựa trên các tiêu chí về kinh tế.
Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, là cơ sở định hƣớng việc tìm kiếm đồng bộ các giải pháp giảm nghèo ở nƣớc ta, đặc biệt là miền núi, vùng cao, biên giới, vùng đồng bào dân tộc ít ngƣời. * Nghèo đa chiều Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1998): để tồn tại, con ngƣời cần có những nhu cầu vật chất và 10 tinh thần tối thiểu; dƣới mức tối thiểu này, con ngƣời s bị coi là đang sống trong nghèo nàn. Các khái niệm trên có sự thống nhất cao của các quốc gia, các tổ chức quốc tế cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Vì vậy, có thể hiểu nghèo đa chiều là tình trạng con ngƣời không đƣợc đáp ứng ở mức tối thiểu một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Tiêu chí xác định chuẩn nghèo Chu n nghèo là tiêu chí để xác định ai là ngƣời nghèo trong xã hội. Thông thƣờng chu n nghèo phản ánh mức chi tiêu tối thiểu cần thiết của con người cho việc tham gia các hoạt động trong đời sống kinh tế. Nó là một thƣớc đo tƣơng đối, đƣợc thay đổi theo các điều kiện phát triển KT - XH và tập quán tiêu dùng. Chu n nghèo của quốc gia đƣợc xem nhƣ là mức sàn để xác định chu n nghèo cho các địa phƣơng khác nhau.
Mỗi địa phƣơng căn cứ vào các điều kiện nhƣ: mức sống, nhu cầu chi tiêu, sức mua của đồng tiền, mức lạm phát,. có thể ban hành chu n nghèo của riêng mình theo từng giai đoạn nhất định. Từ 1993 đến nay, Bộ Lao động – TB&XH đã 7 lần công bố tiêu chu n cụ thể cho hộ nghèo. Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia.
- Chuẩn nghèo 1993 - 1995: Hộ nghèo là hộ có thu nhập lƣơng thực quy gạo bình quân dƣới 20kg/ngƣời/tháng đối với khu vực thành thị và dƣới 15kg/ngƣời/tháng đối với khu vực nông thôn. - Chuẩn nghèo 1995 - 1997: Hộ nghèo là hộ có thu nhập lƣơng thực quy gạo bình quân dƣới 15kg/ngƣời/tháng đối với khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, dƣới 20kg/ngƣời/tháng đối với khu vực nông thôn đồng bằng và trung du và dƣới 25kg/ngƣời/tháng đối với khu vực thành thị. 11 - Chuẩn nghèo 1998 - 2000: Chu n nghèo vẫn đƣợc giữ nguyên nhƣ năm 1995, nhƣng có sự khác biệt đó là có quy đổi từ hiện vật ra tiền của từng vùng cụ thể. Theo đó: Hộ nghèo đƣợc xác định là hộ có mức thu nhập bình quân quy gạo dƣới 15kg/ngƣời/tháng, tƣơng đƣơng 55.000 đồng, tính cho khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, dƣới 20kg/ngƣời/tháng, tƣơng đƣơng 70.000đ, tính cho khu vực nông thôn đồng bằng và dƣới 25kg/ngƣời/tháng, tƣơng đƣơng với 90.000 đồng, tính cho khu vực thành thị.
- Chuẩn nghèo 2001 - 2005: Không dựa vào thu nhập lƣơng thực quy gạo mà dựa vào thu nhập tính theo tiền Việt Nam, theo đó: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dƣới 80.000 đồng/ngƣời/tháng, tính cho khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, dƣới 100.000 đồng/ngƣời/tháng, tính cho khu vực nông thôn đồng bằng và dƣới 150.000 đồng/ngƣời/tháng, tính cho khu vực thành thị. - Chuẩn nghèo 2006 – 2010: Đƣợc nâng lên cho phù hợp với mức sống đã đƣợc cải thiện của nhân dân và để gần với chu n nghèo đói của quốc tế: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dƣới 200.000 đồng/ngƣời/tháng, tính cho khu vực nông thôn và dƣới 260.000 đồng/ngƣời/tháng, tính cho khu vực thành thị. - Chuẩn nghèo 2011 - 2015: Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/ngƣời/tháng (từ 6.000 đông/ngƣời/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ngƣời/tháng (từ 4.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống.
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/ngƣời/tháng. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/ngƣời/tháng. - Chuẩn nghèo mới giai đoạn 2016 – 2020 áp dụng đa chiều: + Các tiêu chí về thu nhập 12 Chu n nghèo: 700.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị. Chu n cận nghèo: 1.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị.
+ Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nƣớc sạch và vệ sinh; thông tin; Các chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; BHYT; trình độ giáo dục của ngƣời lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lƣợng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu ngƣời; nguồn nƣớc sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin [26]. huẩn n hèo thu nhập ở iệt Nam qua các iai đo n (Đơn vị: 1.000 đồng/người/tháng) Giai đoạn 1993 1995 1998 2001 2006 2011 2016 -1995 -1997 -2000 -2005 -2010 -2015 -2020 Vùng Miền núi, hải đảo 45 45 55 80 200 400 700 Nông thôn 45 60 70 100 200 400 700 Thành thị 60 75 90 150 260 500 900 Nguồn:Tổng hợp từ các văn bản của Bộ Lao động – TB&XH 1. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo - Nguyên nhân khách quan dẫn đến nghèo Thứ nhất, ở miền núi chịu sự phân chia về địa hình và sự cách biệt về xã hội, do sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại khó khăn nên không có điều kiện trao đổi hàng hóa, giao lƣu văn hóa, bên cạnh đó là tập quán phong tục địa phƣơng lạc hậu dễ bị lôi kéo vào việc mê tín, dị đoan, dân cƣ sinh sống rải rác không tập chung, xa trƣờng học, trạm y tế nên điều kiện để tiếp cận tri thức vô cùng khó khăn, thậm chí còn có nhiều trẻ em không 13 đƣợc đến trƣờng, ngƣời dân không đƣợc chăm sóc về y tế thƣờng xuyên và kịp thời. Thứ hai, do thiếu các yếu tố đầu vào để sản xuất kinh doanh: Có những ngƣời có trí thức và kỹ năng nghề nghiệp ở một mức độ cần thiết nhƣng lại thiếu các yếu tố đầu vào nhƣ vốn, đất đai,.
nên cũng khó phát triển sản xuất hay làm dịch vụ để tăng thu nhập. Thứ ba, do gặp phải rủi ro trong sản xuất kinh doanh hoặc thiên tai, dịch bệnh.