Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO 1. Đói nghèo và sự cần thiết phải có chính sách xóa đói giảm nghèo 1. Đói nghèo và tác động của nó đến phát triển kinh tế xã hội 1. Quan niệm của thế giới về đói nghèo Đói nghèo là một vấn đề được loài người quan tâm cả trong thực tiễn và lý luận.
Có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này, dĩ nhiên cũng có nhiều quan điểm bất đồng và gây ra những tranh cãi lớn nhưng nhìn chung đều coi đói nghèo là tình trạng một nhóm người trong xã hội không có khả năng được hưởng một “cái gì đó” ở mức tối thiểu cần thiết. Sự khác nhau về “cái gì đó” đã được đề cập đến ở ba lý thuyết chủ yếu đó là lý thuyết của trường phái Phúc lợi, trường phái Nhu cầu cơ bản và trường phái Khả năng. Trường phái thứ nhất, trường phái phúc lợi, xem một xã hội có hiện tượng đói nghèo khi một hay nhiều cá nhân trong xã hội đó không có được một mức phúc lợi kinh tế được coi là cần thiết để đảm bảo một cuộc sống tối thiểu hợp lý theo tiêu chuẩn của xã hội đó. Cách hiểu này coi “cái gì đó” là phúc lợi kinh tế của cá nhân, hay độ thỏa dụng cá nhân.
Tuy nhiên, vì độ khả dụng vốn là một khái niệm mang tính ước lệ, không thể đo lường hay lượng hóa được, nên người ta thường đồng nhất nó với một khái niệm khác cụ thể hơn, đó là mức sống. Khi đó, tăng thu nhập được xem là điều quan trọng nhất để nâng cao mức sống hay độ thỏa dụng cá nhân. Theo cách hiểu này, các chính sách XĐGN sẽ phải tập trung vào việc tăng năng suất, tạo việc làm. qua đó nâng cao thu nhập cho người dân để họ có thể có được mức phúc lợi kinh tế cần thiết như xã hội mong muốn.
11 Quan niệm về đói nghèo như vậy tuy được coi là cần, nhưng chưa đủ vì đói nghèo còn bao hàm nhiều khía cạnh khác chứ không chỉ riêng thu nhập. Trường phái thứ hai, trường phái dựa vào nhu cầu cơ bản, coi “cái gì đó” mà người nghèo thiếu là một tập hợp những hàng hóa và dịch vụ được xác định cụ thể mà việc thỏa mãn chúng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng cuộc sống. Những nhu cầu cơ bản đó bao gồm lương thực thực phẩm, nước, điều kiện vệ sinh, nhà ở, quần áo, giáo dục, y tế cơ sở, và giao thông công cộng. Trong những nhu cầu cơ bản đó, nhu cầu về dinh dưỡng là quan trọng nhất.
Điểm khác biệt chính của trường phái này so với trường phái phúc lợi là nó không đi vào xác định mức sống hay độ thỏa dụng cá nhân, mà là một hệ thống các hàng hóa cơ bản được coi là mọi cá nhân có quyền được hưởng. Trường phái này bắt nguồn từ những nghiên cứu đầu tiên của nhà kinh tế người Anh Seebohm Rowntree trong những năm 1900 và trở nên phổ biến từ thập niên 70. Theo trường phái này, để XĐGN cần có chính sách cụ thể đối với từng loại nhu cầu cơ bản, chứ không chỉ tập trung vào mỗi việc tăng thu nhập cho cá nhân. Quan niệm này về đói nghèo được phản ánh rất rõ qua định nghĩa về đói nghèo mà Hội nghị Quốc tế về vấn đề này tại Thái Lan năm 1993 đã đưa ra, theo đó: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương.
Một khó khăn lớn nhất đối với quan niệm đói nghèo theo trường phái nhu cầu cơ bản là nhu cầu cơ bản cũng thay đổi tùy theo tuổi tác, giới tính. và các đặc điểm nhân khẩu khác, cũng như mức độ tham gia các hoạt động của từng cá nhân. Vì thế, trường phái thứ ba không quan tâm đến những gì thiếu để thỏa mãn độ khả dụng cá nhân hay nhu cầu cơ bản của con người, mà chú trọng đến khả năng hay năng lực của con người. Do vậy, trường phái này 12 còn được gọi là trường phái dựa vào năng lực, mới nổi lên từ những năm 80 với người đi tiên phong là nhà kinh tế học người Mỹ gốc Ấn Độ Amartya.
Theo ông, giá trị cuộc sống của con người không chỉ phụ thuộc duy nhất vào độ khả dụng hay thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, mà đó là khả năng mà một con người có được, là quyền tự do đáng kể mà họ được hưởng, để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn. Theo cách hiểu này, điều mà các chính sách XĐGN cần làm là phải tạo điều kiện để người nghèo có được năng lực thực hiện các chức năng cần thiết, đi tìm những thứ rất cơ bản như đủ dinh dưỡng, có sức khỏe tốt, tránh được nguy cơ tử vong lớn. đến những nhu cầu cao hơn như được tôn trọng, được tham gia vào đời sống xã hội, có tiếng nói và quyền lợi. Như vậy, trường phái này khác cơ bản so với các trường phái trên ở chỗ nó chú trọng đến việc tạo cơ hội cho người nghèo để họ có thể phát huy năng lực theo cách mà họ tự chọn.
Ngày nay, hầu hết các tổ chức quốc tế như WB, Liên Hiệp Quốc đều đã mở rộng khái niệm đói nghèo để bao hàm cả những khía cạnh về năng lực như Seebohm Rowntree đã đề xuất. Theo đó, đói nghèo gồm những khía cạnh cơ bản như sau: Trước tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng hay nói cách khác khía cạnh đầu tiên của đói nghèo là đói nghèo theo thu nhập. Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế. Tiếp đến nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh nghèo đói về thu nhập hoặc về sức khỏe.
Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo. Với phát hiện đói nghèo là đa chiều, các khía cạnh đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau cho thấy để giải quyết vấn đề đói nghèo cần có một hệ thống các chính sách hoàn chỉnh và đồng bộ. Việc chỉ ra bản chất đói nghèo 13 sẽ là cơ sở cho các quốc gia xây dựng một chiến lược hành động phù hợp cho mình. Đặc biệt hệ thống giải pháp được xây dựng trên cơ sở phân tích bản chất đói nghèo sẽ tác động một cách hiệu quả đa chiều đến vấn đề này.
Quan niệm về đói nghèo của Việt Nam Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác XĐGN. Chính vì vậy, thời gian qua Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động XĐGN cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Trong đó, việc thống nhất quan niệm đói nghèo của Việt Nam cũng được xác định là một vấn đề cần được quan tâm. Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam khá phong phú.
Nó được thay đổi và ngày một gần với quan niệm đói nghèo của thế giới. Căn cứ vào mức sống thực tế và trình độ phát triển KT-XH, từ năm 1993 đến nay Bộ LĐTBXH đã 6 lần công bố tiêu chí cụ thể để đánh giá hộ nghèo. Các tiêu chí này cũng thay đổi theo thời gian điều tra cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia. Chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 được áp dụng theo Quyết định số 170/2005/QĐ- TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010, quy định những người có mức thu nhập sau được xếp vào nhóm hộ nghèo.
- Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực nông thôn dưới 200.000đồng/người/tháng. - Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực thành thị dưới 260.000đồng/người/tháng. Tuy nhiên chuẩn nghèo trên chưa đánh giá được đúng thực tế nghèo. Chuẩn nghèo đói của nước ta vẫn còn cách quá xa so với chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới với ngưỡng 1 USD/người/ngày.
14 Do vậy ngày 30/01/2011 theo đề nghị của Bộ LĐTB&XH, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo ápdụng cho giai đoạn 2011-2015. Theo Quyết định này chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được tính như sau: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo (Vùng nông thôn, có mức thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống. Vùng thành thị, có mức thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống). Trong hộ nghèo lại có hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, đây là các hộ gia đình dân tộc sống ở vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa có mức thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo.
Các hộ này còn tồn tại phong tục tập quán sản xuất mang nặng tính tự nhiên, chủ yếu phát nương làm rẫy, tổng giá trị tài sản bình quân đầu người dưới 1 triệu đồng. Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn hộ nghèo tính theo vùng. Vùng nông thôn, có mức thu nhập từ 401.000 đồng/người/tháng. Vùng thành thị, có mức thu nhập từ 501.000 đồng/người/tháng.
Ngoài các tiêu chí đánh giá nghèo của Bộ LĐTB&XH thì còn có cách đánh giá nghèo của Tổng cục thống kê. Về cơ bản chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê được xác định dựa trên cách tiếp cận của WB, gồm 2 mức; Mức nghèo lương thực, thực phẩm và mức nghèo chung. Mức nghèo lương thực, thực phẩm là chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người/tháng.1: Chuẩn nghèo và cận nghèo ở Việt Nam Chuẩn nghèo Chuẩn cận nghèo Giai Văn bản quy (đồng/người/tháng) (đồng/người/tháng) đoạn định Nông thôn Thành thị Nông thôn Thành thị 170/2005/QĐ- 2006- 270.000 đến TTg ngày Dưới 200.000 15 2015 TTg ngày đến 520.000 hoặc trên hoặc trên đến 1.000 đến đồng và thiếu và thiếu hụt 1.000 và 59/2015/QĐ- hụt dưới 03 dưới 03 chỉ số 2016 - thiếu hụt từ 03 thiếu hụt từ 03 TTg ngày chỉ số đo lường đo lường mức 2020 chỉ số đo lường chỉ số đo lường 19/11/2015 mức độ thiếu độ thiếu hụt mức độ thiếu mức độ thiếu hụt tiếp cận các tiếp cận các hụt tiếp cận các hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội dịch vụ xã hội dịch vụ xã hội dịch vụ xã hội cơ bản. cơ bản trở lên.
cơ bản trở lên.