CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về từ xưng hô trên thế giới Việc nghiên cứu từ xưng hô đã có từ thời cổ đại. Trong tác pham The Grammar of Dionysios Thrax, tác giả Davidson đã dịch khái niệm pronoun (đại từ) của tác giả người Hy Lạp cô đại Dionysiusax Thrax (170-90 TCN) sang tiếng Anh là “một từ được dùng để thay cho danh từ và chỉ những người xác định [a word assumed instead of a noun, and indicating definite persons]” [58, tr.
Tiếp đến, nhà nhân chủng hoc Morgan (1870) trong công trình nghiên cứu “Systems of Consanguinity and Affinity of the Human Family” (Hệ thong thân tộc và sự giống nhau về cấu trúc của gia đình con người) đã bàn về việc danh từ thân tộc được sử dung dé giao tiếp trong các bộ tộc người Mỹ ban địa. Họ “không bao giờ sử dụng tên riêng của người được nhắc đến” [64, tr. 132] vì đây không những là phong tục mà còn là sự sang trọng của tộc người này so với tộc người khác, đồng thời cũng biểu thị thứ bậc trong quan hệ họ hàng, tránh sự khiếm nhã hoặc sự xúc phạm đáng tiếc xảy ra. Sau đó là Brown và Gilman (1960) trong công trình “The Pronouns of Power and Solidarity” (Đại từ của đoàn kết và quyền lực) đã đề xuất mô hình lí thuyết nhằm lí giải cách sử dụng từ xưng hô theo yếu tố văn hoá.
Họ chỉ ra rằng, các thứ tiếng như tiếng Pháp, Đức, Ý và một số thứ tiếng khác có những quy luật sử dụng từ xưng hô khác nhau vì các thứ tiếng này có nền văn hoá khác nhau. Chang hạn, tiếng Đức sử dụng từ xưng hô dé biểu thị sự tôn trọng gia đình; còn tiếng Pháp và tiếng Ý thì sử dụng chúng dé biểu 16 tư cách. Đến năm 1973, tác giả Lakoff trong công trình “Language and Woman's Place” (Ngôn ngữ và địa vị của phụ nữ) đã cho thấy, đối với phụ nữ từ xưng hô được sử dụng thường thé hiện địa vị thấp hơn nam giới, điều này nói lên sự thiếu tôn trọng và làm gia tăng sự bat bình dang giới. Người phụ nữ khi kết hôn được gọi là bà (Mrs), còn khi chưa kết hôn được gọi là cô (Miss) và điều này được coi là tôn trọng và lịch sự.
Còn đàn ông thì dù đã kết hôn hay không vẫn được gọi là ông 15 (Mr. Không những vậy, khi người phụ nữ kết hôn thì họ còn thường bị mat họ của mình vì phải lấy họ chồng trong khi người chồng thì không bị như vậy. Tác giả cho thấy quan điểm về vị trí xã hội và tình trạng hôn nhân giữa phụ nữ và nam giới có sự bất bình đăng và chúng cũng được thê hiện trong từ xưng hô. Tác giả Salifu (2010) trong công trình nghiên cứu Signaling Politeness, Power and Solidarity through Terms of Address in Dagbanli (tạm dịch: Tín hiệu lịch sự, quyền lực và đoàn kết trong từ xưng hô của tiếng Dagbanli) đã nêu (tạm dịch): “việc sử dụng các danh từ có nguồn gốc thân tộc và chức danh dé xưng hô là dé giữ gìn thể diện, biểu thị quyền lực và sự đoàn kết.
Còn tác giả Fashola (2014) nêu (tạm dịch): “Người châu Phi sử dụng các danh từ có nguôn gốc thân tộc trong giao tiếp xã hội là nhằm mục đích gìn giữ sự hòa hợp, thu hẹp khoảng cách, và ton trong thé dién giữa những con người với nhau. Dưới một góc nhìn khác, nhóm tác giả Gusnawaty, Lukman, Andi Nurwati, Ahmad Adha (2022) lại cho răng sử dụng từ xưng hô có nguồn gốc thân tộc là được dựa trên yếu tố quyên lực (power) và đoàn kết (solidarity) của các đối tượng tham gia hội thoại (đối ngôn) (interlocutors). Ở đây, yếu tố quyền lực không nhằm thé hiện sự đe doa (intimidation) mà muốn nhắn mạnh đến sự hài hòa (harmony) trong các tương tác xã hội. Những nghiên cứu về từ xưng hô tiếng Việt trong nước Việc nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Việt cũng đã được giới Việt ngữ học quan tâm từ khá sớm.
Tiêu biểu có nhóm tác giả Trần Trọng Kim - Phạm Duy Khiêm - Bùi Kỷ trong cuốn “Việt-Nam văn-phạm” (1940). Nhóm này đã nói khá chỉ tiết về việc dùng và phân loại từ xưng hô ở Chương VII, mục Đại-danh-tự. Tại đây, các tác giả nêu “Đại-danh-tự là tiếng dùng thay thế cho danh-tự”, và chia ra thành 2 loại: Nhân-vật đại-danh-tự và Chỉ-định đại-danh-tự. Đồng thời liệt kê các nhân-vật đại-danh-tự ding ở ngôi thứ nhất (ta, tôi, min, tớ, qua, thiếp, choa); ngôi thứ hai (mày, mi, ngươi, bậu, bay); ngôi thứ ba (nó, hắn, nghỉ, va, y, họ) [25, tr.
Đặc biệt, các tác giả đã đề cập đến vấn dé vị thé chi phối việc dùng từ xưng hô: “Khi người ta nói những người bậc trên, thì người ta lấy chức-tước hay danh-vị mà 16 gọi, chứ không bao giờ dùng những tiếng đại-danh-tự ấy. Theo đó, các tác giả cũng đã gián tiếp xác định một số từ thuộc loại nhân-vật đại-danh-tự có géc từ các danh từ chỉ thân tộc: “Những tiếng nhân-vật đại-danh-tự, phần nhiều là do những tiếng danh-tự mà thành ra. Những tiếng đại-danh-tự ấy, có tiếng chỉ dùng dé nói về bên nam, như: ông, thầy, chú, cậu, anh, chàng, thằng; có tiếng chỉ dùng dé nói về bên nữ, như: bà, mẹ, cô, thim, mo, di, mu, thiếp, nàng, ả, chị, con (trái với thằng); có tiếng dùng dé nói chung cả bên nam, bên nữ, như: ngài, người, ngươi, cố, cụ, bác, em, con, cháu. Tác giả Phạm Thanh (1994) đã nhấn mạnh đến vai giao tiếp trong xưng hô: “Vai giao tiếp của người Việt được quy định bởi vị trí của người đó đối với các thành viên khác trong hệ thống phân định rạch ròi: gia đình và xã hội.
Tương đồng với quan điểm trên, tác giả Bùi Thị Minh Yến (2001) đã nhấn mạnh đến vị thế trong xã hội của các đối tượng tham gia giao tiếp với sự tương tác của 2 yếu tô xưng và hô: “Thực ra, xưng và hô là một cơ chế tương tác lời nói hết sức tỉnh vi. Bởi vì chúng phản ánh hay thể hiện quy ước xã hội về hành vi và vai xã hội của những người tham gia giao tiếp, là những nhân tố tác động trực tiếp đến việc lựa chọn từ ngữ xưng hô và các loại từ ngữ khác cũng như các nhân tô phi ngôn ngữ khi tạo lập phát ngôn xưng hô. Năm 2002, Trương Thị Diễm tiếp tục phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt thành 2 nhóm lớn “dai tir nhân xưng và những yếu tổ xưng hô phi đại từ nhân xưng. Tác giả cũng chỉ ra 6 tiểu loại từ ngữ thuộc loại những yếu to xưng hô phi đại từ nhân xưng, bao gồm: 1) Danh từ chỉ thân tộc (ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, cô, bác.); 2) Danh từ chỉ quan hệ xã hội (bạn, đông chi, dong hương.); 3) Danh từ chỉ chức vụ xã hội cao hoặc những nghề nghiệp đặc biệt (chủ tich, tổng thống, bộ trưởng, giám đốc, thay, cô, bác sĩ.); 4) Tổ hợp từ gồm danh từ chỉ quan hệ thân tộc và dai từ chỉ định (ông dy, bà ay, chi ấy, anh ấy.; đâu, đấy, dang dy.); 5) Danh từ riêng mà cụ thể là tên riêng của các nhân vật giao tiếp hoặc tên của những người thân như chồng, con.; 6) Các kết hợp giữa từ xưng hô với tên; chức danh với tên.
Đồng thời, tác giả cũng nêu vấn đề chuyên loại (chuyền từ 17 từ loại này sang từ loại khác mà không thay đổi vỏ ngữ âm) trong hệ thống ngôn ngữ đơn lập, và cho rằng có hiện tượng “bi đại từ hod’ trong một số đơn vị thuộc loại những yếu to xưng hô phi đại từ nhân xưng. Khi bàn về khái niệm “từ xưng hô”, tác giả Nguyễn Thị Trung Thành (2007) cũng phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm “đại từ dùng để xưng hô; danh từ chi quan hệ họ hàng dùng để xưng hô; danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp dùng dé xưng hô. Nguyễn Thị Ly Kha (2007) coi những danh từ chỉ quan hệ thân tộc và chỉ chức vu, nghề nghiệp đã được đại từ hoá trong cách sử dụng [21]. Nhiều nghiên cứu về ngôn ngữ học so sánh đối chiếu cũng chỉ ra rằng, TXH là một phương tiện đặc biệt biểu hiện ý nghĩa lịch sự, sự lễ phép hoặc thân mật trong giao tiếp.
Điển hình như các nghiên cứu của tác giả Hoàng Anh Thi, Phan Thi Phương Dung,. Đối với việc nghiên cứu biên soạn và giảng dạy từ xưng hô tiếng Việt cho người nước ngoài, các tác giả như Nguyễn Văn Lai, Bùi Phụng, Vũ Văn Thi, Nguyễn Văn Huệ, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Việt Hương,. đều đã giới thiệu khá cơ bản hệ thống đại từ nhân xưng, các từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt. Điều này giúp cho việc nghiên cứu, việc dạy và học tiếng Việt có chuyên môn hơn.
Ngoài ra, một số nghiên cứu có tính chất thử nghiệm về dạy từ xưng hô cho người nước ngoài có thé ké đến là: “Cách xưng hô và áp dung day từ xưng hô cho du học sinh Lào tại trường văn hoá, thể thao và du lịch Thanh Hoá” (Hoàng Thị Kim Oanh, Hoàng Thị Huệ), “Xây dựng hệ thống bài tập khắc phục lỗi cho học viên người nước ngoài khi hoc đại từ nhân xưng tiếng Việt" (Nguyễn Duy, Đỗ Thúy Nga, Nguyễn Bùi Thiện Nhân, Trần Lại Bảo Châu, Tăng Thị Tuyết Mai). Nói tóm lại, cho đến nay đã có không ít các nghiên cứu lớn, nhỏ về từ xưng hô tiếng Việt ở cả trong và ngoài nước. Các từ xưng hô tuy có xuất hiện trong các giáo trình giảng dạy tiếng Việt dành cho người nước ngoài, nhưng thực trạng của chúng như thế nào vẫn còn chưa được khảo sát, nghiên cứu cụ thé. Luận văn này sẽ đi vào tìm hiểu và khảo sát cụ thé các từ xưng hô nhằm đóng góp vào những khoảng trống còn bỏ ngỏ trong giới nghiên cứu.
Một số van đề về từ xưng hô trong tiếng Việt 1. Từ xưng hô Trong một số cuốn từ điển tiếng Việt ra đời trước đây, khái niệm xưng hô được thể hiện với ý nghĩa khá đơn giản là chỉ vai người được “gọi”, được “kêu”. Chang hạn, xung hô là “Kêu gọi lẫn nhau” [19], hoặc “Gọi lẫn nhau” [10]. Các từ điển tiếng Việt gần đây đã định nghĩa xưng hô tách bạch thành hai yếu tố tương ứng với ý nghĩa của “xưng” và của “hô” (gọi) trong mối quan hệ lẫn nhau.
Chang hạn, xưng hô là “Tự xưng minh và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thi tính chất của mối quan hệ với nhau. Trong các công trình nghiên cứu chuyên sâu về xưng hô, các nhà nghiên cứu đã có những lí giải chi tiết hơn.