Chương 1: Cơ sở lý thuyết. Chương 2: TTTT trong GTDTVCNNN. Chương 3: Một số gợi ý khi giảng dạy TTTT trong giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
Khái quát về tình thái. Khái niệm về tình thái. Saussure chính là người đầu tiên đặt nền móng cho ngôn ngữ học cấu trúc. Một thời gian dài sau F.
Saussure, các nhà ngôn ngữ học vẫn không muốn xóa đi ranh giới giữa ngôn ngữ và lời nói. Các nghiên cứu ngôn ngữ trong giai đoạn này nghiêng về hình thức nên ít xem xét ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp. Vì thế, vai trò của người nói đối với nội dung của phát ngôn ít được đề cập đến. Vấn đề tình thái bị đẩy về phía lời nói và bị coi là thứ yếu.
Nghĩa tình thái là một phạm trù khá phức tạp. Panfilov đã khẳng định: “không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và dối lập nhau nhƣ phạm trù tình thái” (dẫn theo [21,254]). Chính vì thế, tình thái được hiểu không giống nhau ở các khuynh hướng ngôn ngữ học khác nhau. Sau đây chúng tôi xin dẫn một số quan niệm của các nhà ngôn ngữ học về tình thái.
Trên thế giới Những nhà khoa học nghiên cứu tiên phong về tình thái: V.Bally, Noam Chomsky, J.Bally đưa ra quan điểm về tình thái bắt nguồn từ nội dung ngữ nghĩa của câu. Theo ông, nội dung ngữ nghĩa của câu cần phân biệt hai yếu tố khác nhau là: Dictum (ngôn liệu) và Modus (Tình thái). Trong đó, Dictum gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ, còn Modus là bộ phận tình thái, là những thái độ, cách đánh giá khác nhau của người nói đối với nội dung được biểu hiện cũng như mối quan hệ giữa nội dung ấy với hiện thực trong cách nhìn nhận của chủ thể phát ngôn, đó là cái mon muốn hay không mong muốn, cái hiện thực hay phi hiện thực, gắn với mục đích phát ngôn 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nào…Ch.Bally cho rằng chính những yếu tố ấy là “linh hồn của câu”. Cuối cùng Ch.Bally đã định nghĩa:"Tình thái là thái độ của ngƣời nói đƣợc biểu thị đối với sự việc hay trạng thái đƣợc diễn đạt trong câu".
Quan điểm này của Ch.Bally đã được Fillmore phát triển khi ông nghiên cứu cấu trúc của câu, ông đã chia cấu trúc nghĩa của câu thành hai phần chính là mệnh đề và tình thái, được triển khai theo công thức: S = M + P (S-Modus, P- Proposion). Noam Chomsky, người mở đường cho ngữ pháp cải biến tạo sinh, có một cách nhìn khác về tình thái khi cho rằng: Câu bao giờ cũng phải là câu khẳng định, câu nghi vấn hay là câu mệnh lệnh. Tính chất khác nhau của những câu đó là “tình thái”. Như vậy, tình thái là yếu tố buộc phải có, để cùng với “hạt nhân” tạo ra câu cơ sở.
Và không thể nào có một câu mà không có tình thái, tức không thuộc một trong các kiểu câu nói trên. Cũng không thể nào một câu có hai, ba tình thái, tức là cùng một lúc thuộc hai, ba kiểu câu. Như vậy, so với quan điểm của Ch. Bally thì ông không xét riêng đến thái độ tình cảm của người nói mà chỉ xét đến các yếu tố phân biệt kiểu câu.
Nhưng có thể nhìn nhận rằng: Thái độ tình cảm đã được bao trùm ở trong tình thái – yếu tố xác định kiểu câu, vì kiểu câu là sự biểu thị hai quan hệ gắn bó với nhau (quan hệ giữa người nói với thế giới và quan hệ giữa người nói với người nghe). Vì vậy, tình thái trong cách nhìn của N.Chomsky và tình thái trong cách nhìn của Ch. Bally tuy có khác nhau nhưng về cơ bản không đối lập, mâu thuẫn với nhau. Lyons: (1980) [26] một câu thường tồn tại 3 kiểu nghĩa tình thái cơ bản là: Tình thái tất yếu và khả năng: Loại tình thái này bắt nguồn từ sự phân chia của các nhà logic.
Tình thái nhận thức: Là kiểu tình thái liên quan đến tính thực tế, tính hiện thực 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tình thái nghĩa vụ: Liên quan đến trách nhiệm. Ông còn cho rằng, về mặt lý thuyết, có thể phân tình thái nhận thức thành hai loại: tình thái chủ quan và tình thái khách quan, nhưng đó không phải là sự phân chia có thể tiến hành một cách hoàn toàn rạch ròi (dẫn theo [26, 406 – 412]). Đến năm 1990, ông bổ sung thêm hai loại nữa là: Các thì ngữ pháp nhƣ một loại tình thái. Bắt buộc, cho phép, cấm đoán, miễn trừ.
Ở Việt Nam Với tiếng Việt, vấn đề nghiên cứu tình thái và các phương tiện biểu thị tình thái còn gặp nhiều khó khăn. Trong những năm gần đây đã có một số tài liệu, công trình nghiên cứu đề cập đến ý nghĩa tình thái trong phát ngôn và đưa ra một số phương tiện biểu thị tình thái như: phương tiện từ vựng, phương tiện ngữ pháp và ngữ khí của từ,…dựa trên văn cảnh của phát ngôn, hoàn cảnh nói năng hay mục đích giao tiếp. Ở Việt Nam, khái niệm tình thái cũng được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu từ rất sớm. Có thể kể đến các tác giả tiêu biểu sau: Nguyễn Kim Thản [19], Hoàng Trọng Phiến [17], Nguyễn Đức Dân [7], Nguyễn Anh Quế [18], Diệp Quang Ban [1], Cao Xuân Hạo [9], Phan Mạnh Hùng [13], Phạm Hùng việt [23], Nguyễn Thị Lương [16], Nguyễn Văn Hiệp [12].
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chủ yếu dựa theo quan điểm của các tác giả: Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Hoàng Trọng Phiến. Quan niệm của Diệp Quang Ban Vận dụng lý thuyết của lý thuyết ngữ pháp chức năng – hệ thống của A. Halliday, Diệp Quang Ban đã nêu ba chức năng cơ bản của câu tiếng Việt: Chức năng diễn đạt nghĩa biểu hiện (câu với tư cách sự biểu hiện) Chức năng liên nhân – chức năng tương tác (câu với tư cách lời trao đổi) Chức năng tạo văn bản (câu với tư cách thông điệp) (dẫn theo [2, 18-19]) 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả, cấu trúc câu với tư cách lời trao đổi gồm phần thức và phần dƣ. Phần thức diễn đạt quan hệ liên nhân, phần dƣ diễn đạt sự việc hữu quan.
Phần thức gồm biểu thức thức (chỉ thái độ của người nói với người nghe) và các yếu tố tình thái khác (tình thái tố) (chỉ cách nhìn của người nói đối với sự việc được nói đến) (dẫn theo [2, 29]). Như vậy, phần thức tương đương với modus, phần dƣ tương đương với dictum của Ch. Cao Xuân Hạo trong cuốn “Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng” đã đưa ra quan niệm của mình như sau: Trong lôgic học, nội dung của một mệnh đề được chia làm hai phần là: ngôn liệu và tình thái với cách hiểu như sau: Ngôn liệu: “ tức là cái tập hợp gồm sở thuyết (vị ngữ lôgic) và các tham tố của nó đƣợc xét nhƣ một mối liên hệ tiềm năng”. Tình thái là: “Cách thực hiện mối liên hệ ấy, cho biết mối quan hệ ấy là có thật (hiện thực) hay là không có (phủ định nó, coi nó là phi hiện thực), là tất yếu hay phi tất yếu, là có thể có đƣợc hay không thể có đƣợc”.
Hoàng Trọng Phiến: có bàn đến tính tình thái như một điều kiện để tạo câu khi xác định các điều kiện để tạo câu (cùng với tính vị ngữ). Ông quan niệm: “câu bao giờ cũng mang tính tình thái nhất định. Tính tình thái là phạm trù ngữ pháp của câu”, “nó có tác dụng thông báo một điều gì mới mẻ. Qua câu, người nhận hiểu rõ người nói có thái độ như thế nào đối với hiện thực, người nói trình bày hiện thực với sự đánh giá của mình” (đánh giá đúng hay sai, tin hay ngờ, ước đoán hay đã tồn tại thực, khuyên bảo hay ra lệnh…), (dẫn theo [17,30]).
Nguyễn Văn Hiệp: Cũng giống nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ khác, trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp”, Nguyễn Văn Hiệp đồng ý với quan điểm của 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Byee là: “Tình thái là tất cả những gì mà ngƣời nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” (dẫn theo [12,92]). Tác giả đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa. Tình thái nhận thức: Thuật ngữ “epistemic” (nhận thức) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là hiểu biết, tuy nhiên được dùng theo nghĩa rộng hơn, không chỉ liên quan đến tính tất yếu, tính khả năng mà còn liên quan đến mức độ cam kết của người nói đối với điều được nói ra trong câu. Tình thái đạo nghĩa: Là tình thái liên quan đến nhân tố ý chí của người nói.
Nếu như tình thái nhận thức chỉ ra vị thế hiểu biết của người nói bao gồm cả sự xác nhận cũng như những đảm bảo cá nhân của người nói đối với điều anh ta nói ra thì tình thái đạo nghĩa lại liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do một người nào đó hay chính người nói thực hiện. Tuy nhiên, có thể thấy hai loại tình thái này đều có hai đặc điểm chung là tính chủ quan và tính không thực hữu. Tính chủ quan: Ở tình thái nhận thức, tính chủ quan thể hiện ở những bằng chứng và cơ sở lý luận mang tính cá nhân của người nói nhằm thể hiện sự cam kết có mức độ vào tính chân thực của điều được nói ra. Ở tình thái đạo nghĩa, tính chủ quan thể hiện ở thái độ, ý chí và mong muốn của người nói đối với hành động.
Người nói cho rằng hành động là bắt buộc, là bị cấm đoán, là được miễn trừ. Qua đó, người nói thể hiện ý chí, mong ước người nghe thực hiện hành động (thể hiện ở nhóm hành động hay cam kết). Tính không thực hữu: Ở tình thái nhận thức, tính không thực hữu thể hiện ở sự cam kết, mức độ của người nói đối với tính chân thực của điều được nói ra. Nói cách khác, người nói không đảm bảo hoàn toàn tính chân thực của nó.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở tình thái đạo nghĩa, tính không thực hữu thể hiện ở hành động tương lai mà người nói muốn người nghe thực hiện hay tự mình thực hiện. Những phát ngôn thuộc nhóm điều khiển đều có thể phân tích như là những phát ngôn áp đặt ai đó nghĩa vụ phải làm cho mệnh đề được nêu trong phát ngôn trở thành hiện thực trong một tương lai nào đó.