Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Vật Lý Đại Cương Theo Tiếp Cận CDIO

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích dạy học vật lí đại cương cho sinh viên đại học khối ngành kĩ thuật theo tiếp cận cdio, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Trường đại học

Trường Đại Học Vinh

Chuyên ngành

Khoa Học Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

242
13
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu về dạy vật lí đại cương cho sinh viên khối ngành kĩ thuật

1.2. Các nghiên cứu ở nước ngoài về dạy vật lí đại cương cho sinh viên khối ngành kĩ thuật

1.3. Các nghiên cứu ở Việt Nam về dạy vật lí đại cương cho sinh viên khối ngành kĩ thuật

1.4. Các nghiên cứu về đào tạo sinh viên khối ngành kĩ thuật theo tiếp cận CDIO

1.5. Các nghiên cứu về CDIO ở nước ngoài

1.6. Các nghiên cứu về CDIO ở Việt Nam

1.7. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

2. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG CHO SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KĨ THUẬT THEO TIẾP CẬN CDIO

2.1. Đào tạo đại học theo tiếp cận CDIO

2.2. Các khái niệm cơ bản về CDIO

2.3. Phát triển chương trình đào tạo theo CDIO

2.4. Đề cương môn học theo tiếp cận CDIO

2.5. Phương pháp dạy học theo tiếp cận CDIO

2.6. Định hướng phương pháp dạy học tiếp cận CDIO

2.7. Một số phương pháp dạy học hiện đại

2.8. Phương tiện, điều kiện, không gian học tập theo tiếp cận CDIO

2.9. Học liệu trong đào tạo đại học theo tiếp cận CDIO

2.10. Điều kiện tiếp cận học liệu - không gian học tập theo tiếp cận CDIO

2.11. Đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận CDIO

2.12. Đặc trưng của đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận CDIO

2.13. Các hình thức đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận CDIO

2.14. Các phương pháp đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận CDIO

2.15. Các công cụ đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận CDIO

2.16. Thực tiễn dạy học vật lí đại cương trong đào tạo đại học khối ngành kĩ thuật ở Việt Nam

2.17. Đặc điểm chương trình đào tạo đại học khối ngành kĩ thuật ở Việt Nam

2.18. Các ngành đào tạo trong chương trình đào tạo đại học khối ngành kĩ thuật ở Việt Nam

2.19. Môn học vật lí đại cương trong chương trình đào tạo đại học khối ngành kĩ thuật ở Việt Nam

2.20. Tìm hiểu thực trạng dạy học vật lí đại cương cho sinh viên khối ngành kĩ thuật ở một số trường đại học

2.21. Đề xuất quy trình tổ chức dạy học vật lí đại cương cho sinh viên đại học khối ngành kĩ thuật theo tiếp cận CDIO

2.22. Những luận điểm cơ bản đề xuất quy trình tổ chức dạy học vật lí đại cương cho sinh viên đại học khối ngành kĩ thuật theo tiếp cận CDIO

2.23. Quy trình tổ chức hoạt động dạy học vật lí đại cương cho sinh viên đại học khối ngành kĩ thuật theo tiếp cận CDIO

2.24. Kết luận chương 2

3. DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG TIẾP CẬN CDIO CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH KĨ THUẬT

3.1. Chương trình vật lí đại cương trong đào tạo đại học khối ngành kĩ thuật

3.2. Sơ đồ cấu trúc vật lí đại cương

3.3. Tóm lược nội dung các phần

3.4. Cơ hội tiếp cận phát triển kĩ năng nghề trong học tập phần Điện học - vật lí đại cương chương trình đào tạo khối ngành kĩ thuật

3.5. Xây dựng CĐR phần Điện học thuộc môn học vật lí đại cương cho sinh viên đại học khối ngành kĩ thuật theo tiếp cận CDIO

3.6. Vị trí phần Điện học

3.7. Nội dung của phần Điện học

3.8. Xây dựng chuẩn đầu ra của phần Điện học

3.9. Xây dựng website hỗ trợ dạy học phần Điện học thuộc vật lí đại cương

3.10. Mục tiêu và đối tượng sử dụng

3.11. Cấu trúc và nội dung của website

3.12. Xây dựng kế hoạch dạy học phần Điện học

3.13. Kế hoạch tổng quát

3.14. Kế hoạch dạy học cụ thể các nội dung theo mô hình lớp học đảo ngược

3.15. Giáo án triển khai dự án

3.16. Giáo án nghiệm thu dự án

3.17. Thiết kế công cụ đánh giá, tự đánh giá kết quả học tập một số nội dung phần Điện học vật lí đại cương khối ngành kĩ thuật theo tiếp cận CDIO

3.18. Kế hoạch đánh giá

3.19. Thiết kế công cụ đánh giá kết quả học tập phần Điện học

3.20. Kết luận chương 3

4. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

4.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

4.3. Đối tượng và thời gian thực nghiệm sư phạm

4.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

4.5. Thực nghiệm sư phạm vòng 1

4.6. Nội dung thực nghiệm sư phạm vòng 1

4.7. Diễn biến thực nghiệm sư phạm vòng 1

4.8. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 1

4.9. Thực nghiệm sư phạm vòng 2

4.10. Nội dung thực nghiệm sư phạm

4.11. Diễn biến thực nghiệm sư phạm vòng 2

4.12. Kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 2

4.13. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG CHO SV ĐH KHỐI NGÀNH KĨ THUẬT

Phụ lục 3. PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG CHO SV ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH KĨ THUẬT

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO TIẾP CẬN CDIO CỦA ĐH BÁCH KHOA HÀ NỘI

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG THEO TIẾP CẬN CDIO CỦA ĐH BÁCH KHOA HÀ NỘI VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG I

ĐỀ KIỂM TRA SAU THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

PHIẾU ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM

PHIẾU HỌC TẬP

GIÁO ÁN BÀI HỌC TRIỂN KHAI DA 2

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC

KẾ HOẠCH TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG 4. TỪ TRƯỜNG

BẢNG THỐNG KÊ ĐIỂM CÁC CĐR CỦA CÁC CÁ NHÂN SV ĐƯỢC CHỌN THEO DÕI TRONG THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tiếp cận CDIO trong dạy học vật lý đại cương

Tiếp cận CDIO (Conceive - Design - Implement - Operate) là một phương pháp giáo dục hiện đại nhằm nâng cao chất lượng đào tạo kỹ thuật. Mục tiêu chính của CDIO là phát triển toàn diện năng lực cho sinh viên, bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ. Trong bối cảnh giáo dục đại học tại Việt Nam, việc áp dụng CDIO trong dạy học vật lý đại cương cho sinh viên khối ngành kỹ thuật không chỉ giúp cải thiện chất lượng giáo dục mà còn đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật ngày càng cao. Một trong những điểm nổi bật của CDIO là việc tích hợp lý thuyết và thực hành, giúp sinh viên có cơ hội áp dụng kiến thức vào thực tế. Theo một nghiên cứu, "CDIO không chỉ là phương pháp mà còn là một triết lý giáo dục, khuyến khích sinh viên phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề."

1.1. Các khái niệm cơ bản về CDIO

CDIO bao gồm bốn giai đoạn: Hình thành ý tưởng (Conceive), Thiết kế (Design), Triển khai (Implement), và Vận hành (Operate). Mỗi giai đoạn đều có vai trò quan trọng trong quá trình đào tạo kỹ thuật. Hình thành ý tưởng liên quan đến việc phát hiện và định hình các vấn đề cần giải quyết. Thiết kế là giai đoạn lập kế hoạch và tạo ra các giải pháp khả thi. Triển khai là thực hiện các kế hoạch đã đề ra, trong khi vận hành là giai đoạn kiểm tra và cải tiến các giải pháp. "Mỗi giai đoạn trong CDIO đều yêu cầu sinh viên phải thực hiện các kỹ năng khác nhau, từ tư duy sáng tạo đến khả năng làm việc nhóm," một chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục cho biết.

II. Phương pháp dạy học theo tiếp cận CDIO

Phương pháp dạy học theo CDIO nhấn mạnh vào việc học tập tích cực và trải nghiệm. Các giảng viên được khuyến khích sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy hiện đại như lớp học đảo ngược, học tập dự án và học tập theo nhóm. Những phương pháp này không chỉ giúp sinh viên tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả mà còn phát triển các kỹ năng mềm cần thiết trong môi trường làm việc. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng, "sinh viên tham gia vào các dự án thực tế có khả năng ghi nhớ và áp dụng kiến thức tốt hơn so với các phương pháp truyền thống." Việc áp dụng các phương pháp này trong dạy học vật lý đại cương sẽ tạo ra môi trường học tập tương tác và phát huy tính sáng tạo của sinh viên.

2.1. Định hướng phương pháp dạy học

Định hướng phương pháp dạy học theo CDIO yêu cầu giảng viên phải linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung môn học và đối tượng sinh viên. Việc sử dụng các công nghệ thông tin và truyền thông trong giảng dạy cũng là một yếu tố quan trọng, giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận tài liệu học tập và tương tác với giảng viên. "Sự kết hợp giữa công nghệ và phương pháp dạy học truyền thống sẽ tạo ra những trải nghiệm học tập phong phú hơn cho sinh viên," một giảng viên vật lý chia sẻ.

III. Thực tiễn dạy học vật lý đại cương tại Việt Nam

Thực tiễn dạy học vật lý đại cương cho sinh viên khối ngành kỹ thuật tại Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức. Mặc dù đã có những cải cách trong chương trình đào tạo, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần được khắc phục. Nhiều giảng viên chưa được đào tạo đầy đủ về phương pháp dạy học theo CDIO, dẫn đến việc áp dụng còn hạn chế. Một khảo sát cho thấy, "chỉ khoảng 30% giảng viên có hiểu biết sâu sắc về CDIO và cách áp dụng vào giảng dạy." Điều này cho thấy cần có sự đầu tư và hỗ trợ từ các cơ sở giáo dục để nâng cao năng lực cho giảng viên.

3.1. Đề xuất quy trình tổ chức dạy học

Đề xuất quy trình tổ chức dạy học vật lý đại cương theo tiếp cận CDIO bao gồm các bước như: xác định mục tiêu học tập, thiết kế nội dung giảng dạy, lựa chọn phương pháp dạy học, và đánh giá kết quả học tập. Quy trình này không chỉ giúp giảng viên tổ chức bài giảng một cách có hệ thống mà còn đảm bảo rằng sinh viên có thể đạt được các chuẩn đầu ra đề ra. "Việc xây dựng một quy trình rõ ràng sẽ giúp cải thiện chất lượng dạy và học, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên phát triển toàn diện hơn," một chuyên gia giáo dục nhận định.

20/12/2024
Luận án tiến sĩ dạy học vật lí đại cương cho sinh viên đại học khối ngành kĩ thuật theo tiếp cận cdio

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về dạy vật lí đại cương cho sinh viên khối ngành kĩ thuật 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài về dạy vật lí đại cương cho sinh viên khối ngành kĩ thuật Nghiên cứu giảng dạy vật lí trong giáo dục kĩ thuật đã là chủ đề được quan tâm trong thời gian diễn ra các cuộc cách mạng công nghiệp. Franklin (giáo sư tại ĐH Harvard (1917-1925) và MIT (1917-1929)), đã xuất bản cuốn “Dạy học vật lí cho SV kĩ thuật” (The teaching of physics to engineering students), quan điểm của Franklin là: “Dạy vật lí là để phát triển tư duy của SV theo một cấu trúc logic bao gồm tổng hợp các quan niệm và lí thuyết vật lí.

Đối tượng chính trong một khóa học vật lí cho SV kĩ thuật nên cung cấp kiến thức khái niệm và phân tích các sự kiện quan trọng của vật lí học, điều này phải được thực hiện thông qua công việc trong phòng thí nghiệm” [79]. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nghiên cứu về vấn đề giảng dạy vật lí cho SV kĩ thuật đã được quan tâm nhiều. Từ năm 1916 đến 1922, Hiệp hội Xúc tiến Giáo dục kĩ thuật (tiền thân của Hiệp hội Giáo dục kĩ thuật Hoa Kỳ) và Hiệp hội Vật lí Hoa Kỳ đã công bố nhiều nghiên cứu về vấn đề trên. Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng: các kiến thức vật lí được dạy để giải quyết các vấn đề thực tế mới; vấn đề đặt ra cho các bài tập cần có tính chất thực tế; công việc trong phòng thí nghiệm được coi là hoạt động khám phá bản chất vật lí của các hiện tượng.

Năm mục tiêu cần đạt khi giảng dạy vật lí cho các kỹ sư: thói quen tư duy khoa học; kiến thức về các định luật vật lí; sáng kiến và sự khéo léo; kiến thức về sự kiện và phương pháp; quan sát chính xác [77], [92]. MG và Teare, B. đã đưa ra đánh giá về vai trò của toán học và vật lí trong giáo dục kĩ thuật, đặc biệt là trong kĩ thuật điện. Hai nghiên cứu cho thấy sự bất ổn trong việc giảng dạy vật lí và toán học, đặc biệt trong sự phối hợp thích hợp của các môn học với các khóa học kĩ thuật.

Để khắc phục tình trạng trên, trong dạy học vật lí kĩ thuật, hai vấn đề phải giải quyết đồng thời: đầu tiên, thành thạo các kiến thức cơ bản, bao gồm việc tập trung vào hướng dẫn SV khám phá kiến thức hiệu quả nhất; thứ hai, đào tạo đầy đủ về ứng dụng liên quan đến việc sử dụng kiến thức vật lí hiệu quả nhất. Teare cho rằng, việc sử dụng các tình huống về vấn đề trong một lớp học có sáu bước nên tiến hành: (1) Nêu vấn đề và xác định kết quả mong muốn; (2) 8 Xây dựng kế hoạch giải pháp; (3) Diễn đạt các nguyên tắc đã chọn để giải quyết vấn đề; (4) Chuyển các diễn đạt sang dạng toán học, viết nó dưới dạng phương trình; (5) Giải quyết vấn đề; (6) Thử nghiệm giải pháp. Các bước từ (2) đến (4) tạo thành một giai đoạn thiết kế và bước (5) tương ứng với hoạt động thực hiện giải pháp. Nhìn chung, các nghiên cứu ủng hộ việc giảng dạy các nguyên tắc của vật lí, thử nghiệm với sự nhấn mạnh vào các phép đo, phương pháp khoa học và sáng tạo, thực hành giải quyết các vấn đề kĩ thuật thực tế.

Những nghiên cứu về giảng dạy vật lí cho SV kĩ thuật trong 40 năm sau Thế chiến II là tương đối ít. Houston đã công bố công trình “Vật lí trong kĩ thuật” [81] về mối quan hệ lẫn nhau của vật lí và kĩ thuật, giải quyết một số vấn đề giáo dục vật lí cho kỹ sư để giải quyết vấn đề kĩ thuật. Công trình của W. Houston tập trung trả lời câu hỏi: “Loại hình giáo dục nào, loại hình đào tạo nào giúp tạo sự cân bằng giữa kinh nghiệm kĩ thuật và lí thuyết khoa học?”.

Nghiên cứu trên lịch sử của các phát minh của Maxwell, Hertz và Marconi… ông cho rằng: “Trong giáo dục kĩ thuật, có một lỗ hổng giữa giảng dạy vật lí và công việc hàng ngày của sản xuất kĩ thuật. Để đáp ứng những thách thức của kĩ thuật hiện đại, cần giúp SV làm quen với kiến thức của nghiên cứu hiện đại trong vật lí và các ngành khoa học mới". Watson đã xuất bản một bài báo về việc giảng dạy vật lí cho các kỹ sư tại Yale [100]. Nghiên cứu của ông tập trung chủ yếu vào nội dung của chương trình giảng dạy, thay vì mục tiêu của việc chuẩn bị cho SV kĩ thuật trong DH vật lí.

Trong khi các nhà vật lí lỗi lạc của thời đại đó có thể không đặc biệt quan tâm đến việc giảng dạy giúp SV vật lí nhận thức được các vấn đề kĩ thuật, một nhà vật lí vĩ đại, Richard Feynman đã xuất bản một bài báo về việc dạy vật lí cho học sinh ở Mỹ Latinh [78], ông cho rằng: “…Vật lí là một khoa học cơ bản, và như vậy nó được sử dụng trong kĩ thuật, hóa học và sinh học, và có tất cả các loại ứng dụng trong công nghệ. Vật lí là khoa học, hay kiến thức về tự nhiên, cho chúng ta biết mọi thứ hoạt động như thế nào. Đặc biệt là nguyên lí hoạt động của các thiết bị trong công nghệ hiện tại. Vì thế, hiểu biết vật lí sẽ hữu ích hơn nhiều trong việc giải quyết các vấn đề kĩ thuật phát sinh trong ngành công nghiệp.” Trong hai thập kỉ tiếp theo, giữa những năm 1960 và giữa những năm 1980, việc dạy vật lí cho SV kĩ thuật không được thảo luận ngoài những gì đã được nói trong các công trình đã đề cập ở trên, ngoại trừ một vài nghiên cứu tổng quát hơn, 9 nói chung, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng: không chỉ là kĩ thuật phụ thuộc vào vật lí và những khám phá của nó, mà còn là vật lí cần quan tâm đến KT và những thành tựu của nó.

Năm 2019, Van der Veen [99] dựa trên cách tiếp cận theo xu hướng của vật lí học để để giải quyết vấn đề trong giáo dục KT, kết hợp các quan điểm khoa học và KT, liên ngành, mức độ phù hợp với xã hội với một số KT trọng tâm, chẳng hạn như mô hình hóa và hình ảnh hóa, làm việc theo nhóm và DA. Ông đã báo cáo về một số DA vật lí có tầm quan trọng thực tế, ví dụ chế tạo một chiếc thủy phi cơ, máy vẽ, thiết bị làm mát giãn nở khí với hai bơm xe đạp. Ngược lại với cách tiếp cận truyền thống theo cách tiếp cận thử nghiệm, đối với các dự án thiết kế dựa trên mô hình, phương pháp thiết kế bao gồm các hoạt động: xây dựng kiến trúc, thiết kế chi tiết, triển khai và kiểm tra, xác minh và xác nhận. Cách tiếp cận này, được thực hiện như các DA của "nhà sản xuất" có những khía cạnh tích cực sau: tạo cơ hội phát triển kinh nghiệm thực hành; học cách giải quyết vấn đề và câu hỏi mở trong một quá trình lặp đi lặp lại; thực hiện các thiết kế và các nhiệm vụ đa ngành; phát triển các kỹ năng chuyên môn khác nhau, chẳng hạn như lập kế hoạch DA, trình bày kết quả, tiến hành các cuộc họp, làm việc theo nhóm và sản xuất tài liệu… Bašista và Ješková (2017) [71], Manninen và Tiili (2014) [89] đã thảo luận về một cách tiếp cận về phương pháp tương tác trong dạy học vật lí.

Họ đã cố gắng giải quyết vấn đề rằng: SV gặp rất nhiều khó khăn trong học tập liên quan đến việc hiểu các khái niệm vật lí. Thông qua các phương pháp tương tác “GV hướng dẫn và SV là những người tham gia tích cực; GV đóng vai trò hỗ trợ việc học tập của SV; Các tài liệu giảng dạy và học tập được cung cấp cho SV trên một nền tảng học tập điện tử, sử dụng môi trường học tập điện tử để liên lạc giữa GV và SV, thu thập các bài tập được yêu cầu và phản hồi thường xuyên từ GV cho SV.” Tóm lại, các nghiên cứu về dạy học cho SV ngành KT đã được quan tâm từ lâu. Nhiều công trình nghiên cứu đều chỉ ra rằng: - Vật lí đóng một vai trò to lớn trong việc đào tạo các kỹ sư tương lai. Thị trường lao động đã nâng cao yêu cầu đối với trình độ chuyên môn của SV tốt nghiệp, nhiệm vụ của GV vật lí và KT không chỉ là chuyển giao kiến thức đã được xây dựng mà còn cần giúp SV phát triển kỹ năng thực hành để áp dụng kiến thức đó.

- Việc tổ chức thực hành tiếp cận các vấn đề KT thực tế là cần thiết, áp dụng các lí thuyết để tạo ra những SV ngành KT với các kỹ năng ứng dụng thực 10 tế và đổi mới. - Yêu cầu của thời đại Internet, việc học tập trong lớp học thay đổi từ sách giáo khoa đơn giản bằng việc dựa trên truy cập vào hệ thống tài liệu đa phương tiện trên hệ thống học tập điện tử. - Để mở đường cho việc sáng tạo và áp dụng các sản phẩm mới, học tập dựa trên vấn đề và dựa trên dự án (PBL), đã được đề cập khá rộng rãi trong vài thập kỷ qua, giúp SV phát triển khả năng học tập độc lập và theo nhóm và phát triển các kỹ năng chính, làm chủ việc học của mình. Tuy nhiên, các nghiên cứu về dạy học vật lí cho SV ngành KT còn hạn chế trong việc: - Xây dựng quy trình đào tạo từ khảo sát nhu cầu thực tế, thiết kế chương trình đào tạo, xây dựng đề cương cho môn học.

- Xây dựng quy trình tổ chức các hoạt động dạy học có tính tích hợp, sát với quy trình thiết kế KT. Các nghiên cứu ở Việt Nam về dạy vật lí đại cương cho sinh viên khối ngành kĩ thuật Việc dạy học vật lí nói chung và dạy học vật lí ở trường phổ thông đã được nhiều nghiên cứu đề cập đến. Rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã xây dựng nên nền tảng lí luận cho việc dạy học vật lí ở trường phổ thông. Tuy nhiên, việc nghiên cứu dạy học vật lí đại cương ở trường đại học nói chung và cho SV khối ngành KT còn khá khiêm tốn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Vật Lý Đại Cương Theo Tiếp Cận CDIO" của tác giả Tạ Thị Kim Tuyến, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Thị Phú và PGS. Phạm Kim Chung tại Trường Đại Học Vinh, tập trung vào việc cải tiến phương pháp dạy học Vật lý cho sinh viên đại học thuộc khối ngành kỹ thuật theo mô hình CDIO. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển năng lực thực hành cho sinh viên. Những điểm nổi bật của luận án này bao gồm việc phân tích các thách thức trong giảng dạy Vật lý và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giáo dục và quản lý giáo dục, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan sau đây: Luận án tiến sĩ về phát triển đội ngũ giáo viên các trường dạy nghề tỉnh Phú Thọ, nơi bàn về sự phát triển đội ngũ giáo viên trong bối cảnh giáo dục nghề nghiệp; và Luận án tiến sĩ về quản lý chất lượng đào tạo tại trường cao đẳng nghề, cung cấp cái nhìn về quản lý chất lượng trong giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các phương pháp và chiến lược giáo dục hiện đại.