Nghiên Cứu Hành Vi Cầu Khiến Và Ứng Dụng Trong Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ

Khám phá luận văn thạc sĩ về hành vi cầu khiến và ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, nâng cao hiệu quả học tập.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2008

128
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hành vi cầu khiến trong giảng dạy tiếng Việt

Hành vi cầu khiến là một phần quan trọng trong việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ. Nó không chỉ giúp người học hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn tạo điều kiện cho việc giao tiếp hiệu quả. Việc nắm vững các hành vi cầu khiến giúp học viên có thể tương tác tốt hơn trong các tình huống giao tiếp thực tế. Nghiên cứu này sẽ phân tích các khía cạnh của hành vi cầu khiến và ứng dụng của nó trong giảng dạy tiếng Việt.

1.1. Định nghĩa hành vi cầu khiến trong ngôn ngữ học

Hành vi cầu khiến được định nghĩa là những phát ngôn nhằm yêu cầu, đề nghị hoặc ra lệnh cho người khác thực hiện một hành động nào đó. Đây là một khái niệm quan trọng trong ngôn ngữ học, đặc biệt trong việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.

1.2. Vai trò của hành vi cầu khiến trong giao tiếp

Hành vi cầu khiến đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp hàng ngày. Nó giúp người nói thể hiện ý định và mong muốn của mình một cách rõ ràng. Việc hiểu và sử dụng đúng các hành vi cầu khiến sẽ giúp người học tiếng Việt giao tiếp hiệu quả hơn.

II. Thách thức trong việc giảng dạy hành vi cầu khiến tiếng Việt

Giảng dạy hành vi cầu khiến trong tiếng Việt gặp nhiều thách thức. Người học thường gặp khó khăn trong việc nhận diện và sử dụng đúng các cấu trúc cầu khiến. Điều này có thể dẫn đến hiểu lầm trong giao tiếp. Các giáo viên cần có những phương pháp giảng dạy hiệu quả để giúp học viên vượt qua những khó khăn này.

2.1. Khó khăn trong việc nhận diện hành vi cầu khiến

Nhiều học viên không thể phân biệt giữa các loại hành vi cầu khiến khác nhau. Điều này dẫn đến việc sử dụng sai cấu trúc ngữ pháp và làm giảm hiệu quả giao tiếp.

2.2. Ảnh hưởng của văn hóa đến hành vi cầu khiến

Văn hóa có ảnh hưởng lớn đến cách thức sử dụng hành vi cầu khiến. Những khác biệt văn hóa có thể gây ra sự hiểu lầm trong giao tiếp, đặc biệt là giữa người Việt và người nước ngoài.

III. Phương pháp giảng dạy hành vi cầu khiến hiệu quả

Để giảng dạy hành vi cầu khiến hiệu quả, giáo viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy đa dạng. Việc sử dụng tình huống thực tế và các hoạt động tương tác sẽ giúp học viên nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết.

3.1. Sử dụng tình huống thực tế trong giảng dạy

Giáo viên có thể tạo ra các tình huống giao tiếp thực tế để học viên thực hành. Điều này giúp học viên áp dụng lý thuyết vào thực tiễn và nâng cao khả năng giao tiếp.

3.2. Tích hợp công nghệ vào giảng dạy

Việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy như video, ứng dụng học tập có thể giúp học viên tiếp cận với các hành vi cầu khiến một cách sinh động và thú vị hơn.

IV. Ứng dụng hành vi cầu khiến trong sách dạy tiếng Việt

Các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài thường tích hợp hành vi cầu khiến vào nội dung bài học. Việc phân tích cách thức trình bày hành vi cầu khiến trong sách sẽ giúp cải thiện chất lượng giảng dạy.

4.1. Phân tích nội dung sách dạy tiếng Việt

Nghiên cứu cho thấy nhiều sách dạy tiếng Việt chưa chú trọng đến việc trình bày hành vi cầu khiến một cách rõ ràng. Điều này cần được cải thiện để giúp học viên dễ dàng tiếp cận.

4.2. Đánh giá hiệu quả của các phương pháp giảng dạy

Cần có những đánh giá cụ thể về hiệu quả của các phương pháp giảng dạy hành vi cầu khiến trong sách. Điều này sẽ giúp các nhà xuất bản và giáo viên điều chỉnh nội dung cho phù hợp.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của hành vi cầu khiến

Hành vi cầu khiến là một phần không thể thiếu trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ. Việc nghiên cứu và cải thiện phương pháp giảng dạy sẽ giúp nâng cao chất lượng học tập của người nước ngoài. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về hành vi cầu khiến để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu hành vi cầu khiến

Nghiên cứu hành vi cầu khiến không chỉ giúp cải thiện phương pháp giảng dạy mà còn góp phần vào việc phát triển ngôn ngữ học tiếng Việt.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có những nghiên cứu sâu hơn về hành vi cầu khiến trong các ngữ cảnh khác nhau để phát triển các phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn.

16/07/2025
Luận văn thạc sĩ hành vi cầu khiến và ứng dụng trong giảng dạy tiếng việt như một ngoại ngữ

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU Chƣơng 1: Cơ sở lí luận: Hành vi ngôn ngữ và hành vi cầu khiến CHƢƠNG 2: Hành vi cầu khiến trong các sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài CHƢƠNG 3: Ứng dụng vào giảng dạy hành vi cầu khiến cho ngƣời nƣớc ngoài PHẦN KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO TƢ LIỆU NGHIÊN CỨU 10 CHƢƠNG 1: HÀNH VI NGÔN NGỮ VÀ HÀNH VI CẦU KHIẾN 1. Hành vi ngôn ngữ Hành vi ngôn ngữ (hay còn gọi là hành động ngôn từ) đã đƣợc các nhà nghiên cứu nhắc đến từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX. Ngƣời đặt nền móng cho lí thuyết hành vi ngôn ngữ là nhà triết học ngƣời Anh J.Austin, Ông đã nhận thấy đƣợc bản chất hành động của ngôn ngữ là một loại hành động nhƣ mọi hành động khác của sự sống con ngƣời. Khắc phục những điểm yếu của ngành ngôn ngữ học tiền dụng học, lí thuyết hành vi ngôn ngữ (actes de langage) ra đời, những quan điểm của lí thuyết này đƣợc trình bày trong cuốn sách “nói là làm” (1962).

Sau Austin, còn có những nhà nghiên cứu về vấn đề này nhằm khắc phục cũng nhƣ phát triển thêm về lí thuyết hành vi ngôn ngữ, có các nhà nghiên cứu nhƣ: J. Nhận ra bản chất hành động của ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ không chỉ đƣợc dùng để thông báo hoặc miêu tả cái gì đó mà là để thực hiện các hành động, một loại hành động đặc biệt, hành động đƣợc thực hiện bằng các phƣơng tiện là ngôn ngữ. “ Khi nói năng chúng ta thực hiện những hành động nhƣ chúng ta thực hiện những hành động vật lí khác. Hỏi, sai khiến, cầu xin, hứa hẹn, cám ơn, xin lỗi v.” Austin cho rằng có 3 loại hành động ngôn ngữ lớn: hành vi tạo lời, hành vi mƣợn lời và hành vi ở lời.

[2;13] Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ nhƣ ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu. để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung. Hành vi mượn lời là những hành vi “mƣợn” phƣơng tiện ngôn ngữ, nói đúng hơn là mƣợn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở ngƣời nghe, ngƣời nhận hoặc ở chính ngƣời nói. Ví dụ, nghe phát ngôn sai khiến: Đóng cửa lại! SP2 có thể đứng dậy, đi ra cửa và đẩy cánh cửa cho kín lại, anh ta cũng có thể bực 11 tức, càu nhàu, tỏ vẻ khó chịu.

Hành động vật lí đóng cửa, sự bực tức đều thuộc hành vi mƣợn lời. Chức năng hành động của giao tiếp đƣợc thực hiện nhờ các hiệu quả mƣợn lời của phát ngôn. Có những hiệu quả mƣợn lời là đích của một hành vi ở lời (nhƣ đóng cửa là hiệu quả mƣợn lời của hành vi ở lời điều khiển), nhƣng cũng có những hiệu quả không thuộc đích của hành vi ở lời (nhƣ vùng vằng, gắt gỏng, khó chịu khi nghe lệnh). Những hiệu quả mƣợn lời rất phân tán, không tính toán đƣợc.

Chúng không có tính quy ƣớc (trừ hành vi mƣợn lời đích của hành vi ở lời). Hành vi ở lời là những hành vi ngƣời nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tƣơng ứng với chúng ở ngƣời nhận. Ví dụ về hành vi ở lời: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, hứa hẹn, khuyên bảo v.

khi chúng ta hỏi ai về một cái gì đó thì ngƣời đƣợc hỏi có nhiệm vụ phải trả lời chúng ta, cho dù trả lời không biết. Không trả lời, không đáp lại câu hỏi, ngƣời nghe bị xem là không lịch sự. Khác với hành vi mƣợn lời, hành vi ở lời có ý định (hay có đích), có quy ƣớc và có thể chế. Dù rằng quy ƣớc và thể chế của chúng không hiển ngôn mà quy tắc vận hành chúng đƣợc mọi ngƣời trong một cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác.

Có thể nói, nắm đƣợc ngôn ngữ không chỉ nắm đƣợc ngữ âm, từ ngữ, câu v. của ngôn ngữ đó mà còn nắm đƣợc những quy tắc điểu khiển các hành vi ở lời trong ngôn ngữ đó, có nghĩa là biết các quy tắc để “hỏi”, “hứa hẹn”, “yêu cẩu”, “mời”. sao cho đúng lúc đúng chỗ, cho thích hợp với ngữ cảnh, với ngƣời đƣợc hỏi v. Thí dụ ở xã hội Việt Nam và Á Đông nói chung, hỏi SP2 về tuổi tác, về tình trạng hôn nhân.

là đƣợc phép, là tỏ sự quan tâm của ngƣời hỏi với ngƣời đƣợc hỏi. Trái lại, hỏi về vấn đề đó trong xã hội phƣơng Tây lại bị xem là không lịch sự. Trên bình diện rộng, hành vi ngôn ngữ đƣợc xét trên cả ba loại hành động chính là: hành vi tạo lời, hành vi mƣợn lời và hành vi ở lời. Tuy nhiên, 12 trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi xem xét các hành động ngôn ngữ này trên bình diện hẹp: đó là những hành động đƣợc thực hiện ở đích của hành vi ở lời.

Để tìm hiểu các hành vi ngôn ngữ đó, chúng tôi tìm hiểu một số khái niệm có liên quan nhƣ: phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi, động từ chỉ hành vi ngôn ngữ (gọi tắt là động từ nói năng), động từ ngữ vi, biểu thức ngữ vi nguyên cấp, biểu thức ngữ vi tƣờng minh, hành vi ở lời gián tiếp. Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn – sản phẩm của một hành vi ở lời nào đó khi hành vi này đƣợc thực hiện một cách trực tiếp, chân thực. Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trƣng cho hành vi ở lời tạo ra nó. Kết cấu lõi đó gọi là biểu thức ngữ vi.

[2; 91] Các phát ngôn ngữ vi là sản phẩm, cũng là phƣơng tiện của các hành vi ở lời. Phát ngôn ngữ vi tối thiểu là phát ngôn chỉ có biểu thức ngữ vi. Thông thƣờng, phát ngôn ngữ vi thƣờng mở rộng, có biểu thức ngữ vi và các thành phần mở rộng. Ví dụ: Xin bà con yên tâm, tôi sẽ không bao che khuyết điểm cho ai! Thành phần mở rộng Biểu thức ngữ vi Phát ngôn ngữ vi Biểu thức ngữ vi phân ra nhiều loại khác nhau, trừ trƣờng hợp sử dụng gián tiếp thì các biểu thức ngữ vi đƣợc nhận diện nhờ các tiêu chí là những phƣơng tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời.

Nhƣ vậy có nghĩa là có bao nhiêu hành vi ở lời thì có bấy nhiêu biểu thức ngữ vi. Biểu thức ngữ vi là dấu hiệu ngữ pháp ngữ nghĩa của các hành vi ở lời. Có các phƣơng tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời nhƣ: (1) Các kiểu kết cấu: là kiểu câu hiểu theo ngữ pháp truyền thống và cũng bao gồm những kết cấu (mở rộng) cụ thể ứng với từng hành vi ở lời. ví dụ: trong kết cầu khiến không chỉ có các kiểu quen thuộc: (Hãy) đọc đi! Đừng (chớ) làm ồn nữa!.

mà còn có các kết cấu nhƣ: Làm ơn đưa hộ cái 13 bình nước! Đưa cái bình nước hộ cho một tí! Cảm phiền đứng dậy một chút! Xin đề nghị quý ông xem xét ra quyết định! Lên đường nào! Học thôi!. (2) Những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi: những từ ngữ này dùng để tổ chức các kết cấu và là dấu hiệu mà nhờ chúng, chúng ta biết đƣợc hành vi nào đang đƣợc thực hiện. Đó là những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi hỏi nhƣ: có (đã). Đó là những từ ngữ chuyên dùng trong kết cấu cầu khiến nhƣ: hãy, đi, đừng, chớ, hãy.

nữa, xin, làm ơn, hộ, cảm phiền, nào, thôi (đi nào, đi thôi. (3) Ngữ điệu: cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể nếu đƣợc phát âm với những ngữ điệu khác nhau sẽ cho các biểu thức ngữ vi khác nhau ứng với những hành vi ở lời khác nhau. (4) Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ - tham thể tạo nên nội dung mệnh đề nêu trong biểu thức ngữ vi với các nhân tố của ngữ cảnh: các đặc tính ngữ nghĩa nhƣ: tự nguyện hay cƣỡng bức, tích cực hay tiêu cực, có lợi hay có hại. của hành động đối với ngƣời tạo ra hành vi và với ngƣời nhận hành vi.

(5) Động từ ngữ vi: là động từ có thể thực hiện trong chức năng ngữ vi, tức thực hiện chức năng ở lời. Khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi là ngƣời nói thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị, ví dụ nhƣ: hứa, yêu cầu, hỏi, phê bình, tuyên bố. Động từ chỉ hành vi ngôn ngữ và động từ ngữ vi Động từ chỉ hành vi ngôn ngữ nói chung và động từ ngữ vi (hay còn gọi là động từ ngôn hành) nói riêng là những yếu tố đặc biệt quan trọng tham gia vào các biểu thức ngữ vi và là những động từ biểu thị, gọi tên các hành vi ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, GS.Đỗ Hữu Châu chia ra 3 loại động từ nói năng: (1) động từ chỉ cách thức nói năng: làu bàu, thì thầm, ngắc ngứ, rủ rỉ.

(2) 14 động từ vừa chỉ cách thức, vừa chỉ hiệu quả mƣợn lời, vừa chỉ hiệu quả ở lời: hỏi vặn, vặn. [2;95] Động từ ngữ vi (động từ ngôn hành) là một loại đặc biệt của động từ nói năng. Nhờ những động từ này các hành động ngôn ngữ đƣợc thực hiện. Những động từ hứa, xin lỗi, tuyên bố, đánh cuộc.

là những động từ ngữ vi, khi thực hiện những động từ này tức là chúng ta đã thực hiện một hành động, hành động đƣợc thực hiện bằng ngôn ngữ. Có nghĩa là chúng ta chỉ có thể thực hiện những hành động bằng cách phát âm những động từ đó chứ không thể bằng con đƣờng nào khác. Austin cho rằng động từ ngữ vi chỉ đƣợc dùng trong chức năng ngữ vi (có hiệu lực ngữ vi) khi trong phát ngôn nó đƣợc dùng ở ngôi thứ nhất (ngƣời nói SP1) thời hiện tại, thể chủ động và thức thực thi. Xét theo khả năng có thể hay không có thể đƣợc dùng với chức năng ngữ vi trong các biểu thức ngữ vi, các động từ nói năng tiếng Việt có thể chia thành 3 loại: (1) loại vừa có thể dùng ở chức năng ngữ vi, vừa có thể dùng với chức năng miêu tả (hỏi, hứa, mời, tuyên bố, tuyên án, phê bình, cảnh cáo .) (2) những động từ nói năng chỉ đƣợc dùng trong hiệu lực ngữ vi, không thể dùng trong các chức năng miêu tả (đó là một số ít các động từ: cảm tạ, đội ơn, đa tạ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Hành Vi Cầu Khiến Trong Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ khám phá các khía cạnh quan trọng của hành vi cầu khiến trong quá trình giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Tác giả phân tích cách thức mà hành vi cầu khiến có thể được áp dụng để nâng cao hiệu quả giảng dạy, từ đó giúp người học tiếp cận ngôn ngữ một cách tự nhiên và linh hoạt hơn. Bài viết không chỉ cung cấp những lý thuyết cơ bản mà còn đưa ra các phương pháp thực tiễn, giúp giáo viên có thể áp dụng ngay trong lớp học.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và giảng dạy, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ khảo sát lỗi trật tự từ trong câu tiếng việt của sinh viên lào học tiếng việt tại trường đại học quảng bình, nơi nghiên cứu về các lỗi ngữ pháp thường gặp của sinh viên Lào. Ngoài ra, tài liệu Đề tài khoa học nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong hội thoại đàm phán tiếng anh và tiếng việt sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự khác biệt ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp thực tế. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới cho những ai quan tâm đến việc giảng dạy và học tập tiếng Việt.