Chương 1: Một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài Chương 2: Lỗi về trật tự từ trong ngữ và một số bài tập khắc phục lỗi Chương 3: Lỗi về trật tự từ trong câu và một số bài tập khắc phục lỗi Kết luận 15 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Lỗi và lý thuyết phân tích lỗi 1. Khái niệm lỗi Lỗi (error), theo quan điểm tri nhận, là một hiện tượng đương nhiên trong quá trình người học thụ đắc một ngoại ngữ. Lỗi không phải là hiện tượng tiêu cực trong quá trình học ngoại ngữ, không phải là phiên bản méo mó của ngôn ngữ đích mà lỗi thể hiện sự tham gia tích cực của người học trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ đích, thể hiện những chiến lược quan trọng mà người học áp dụng để khám phá ngôn ngữ đích, và lỗi là chứng cứ rõ ràng nhất về hệ thống ngôn ngữ đang phát triển của người học - ngôn ngữ trung gian (Interlanguage) [18; tr 227].
Ngôn ngữ trung gian này luôn biến đổi trong quá trình người học thụ đắc ngôn ngữ đích và tiệm tiến đến ngôn ngữ đích nhưng không thể trở thành ngôn ngữ đích hoàn toàn. Người khởi xướng cho quan niệm "cách mạng" về lỗi này là Pit Corder với hàng loạt công trình để lại những dấu ấn rõ nét và giúp định hướng cho ngành phân tích lỗi (Error Analysis) (Corder, 1973, 1981. Những nhà ngôn ngữ học ứng dụng có cách nhìn mới đối với lỗi bao gồm L. Trong việc học ngoại ngữ, đặc điểm khác nhau về ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa và cấu trúc ngữ pháp giữa các ngôn ngữ thường gây ra những trở ngại đối với người học.
Những trở ngại đó có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, ví dụ như người học hiểu không đúng hoặc áp dụng quá cứng nhắc những quy luật của thứ ngoại ngữ mà họ đã từng học qua vào việc sử dụng ngôn ngữ là đối tượng mình đanghọc. Trong quá trình thụ đắc một ngôn ngữ thứ hai, việc mắc lỗi là điều không thể tránh khỏi. Việc các nhà ngôn ngữ học và giáo học pháp theo trường phái dạy ngôn ngữ giao tiếp nhấn mạnh đến ý nghĩa và tầm quan trọng của lỗi trong việc dạy và 16 z học ngoại ngữ đã làm cho lỗi của người học trở thành một hiện tượng tự nhiên, một thành phần tất yếu trong quá trình học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Việt nói riêng. Do vậy, phát hiện và phân tích lỗi cũng như tìm hiểu nguyên nhân gây lỗi là một công việc hết sức cần thiết nhằm đem lại hiệu quả cao cho việc dạy và học ngoại ngữ.
[34;tr 1] Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau về lỗi. Theo Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng (Nhà xuất bản Longman, 1985), “lỗi” được định nghĩa như sau: “Lỗi của người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hành vi ngôn từ.) bằng cái cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa đầy đủ” [19; tr 7] Hendrickson cho rằng: “Lỗi là một phát ngôn, một hình thức biểu đạt hoặc là một kết cấu mà một giáo viên ngôn ngữ đặc biệt thấy rằng không thể chấp nhận được bởi các cách sử dụng không hợp lí của chúng hoặc là sự vắng mặt của chúng trong các diễn ngôn đời thường”. Giáo sư Lê Quang Thiêm định nghĩa về lỗi như sau: “Lỗi học và dùng ngoại ngữ là tài liệu thô rất quý về nhiều mặt mà ta cần thu thập, hệ thống hóa và phân tích, nghiên cứu. Thiếu nó, chúng ta không thể có một cách hiểu đầy đủ về những tiến bộ xảy ra trong cảm thức ngôn ngữ của người học tiếng” [33; tr 68] Dựa trên những quan điểm đi trước, tác giả Phạm Đăng Bình đã đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ về lỗi như sau: “Lỗi thể hiện sự khiếm khuyết về năng lực giao tiếp của người học trong cách nhìn nhận, đánh giá của người bản ngữ và những người song ngữ.
Lỗi là nguyên nhân gây ra các hiện tượng trống nghĩa, mơ hồ về nghĩa và là nguyên nhân trực tiếp gây ra những sự hiểu nhầm hoặc ngưng trệ giao tiếp. Sự có mặt của lỗi trong 17 z giao tiếp liên ngôn nhiều khi trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến các xung đột hoặc sốc văn hóa”[5; tr. 4] Trên thực tế nghiên cứu, tác giả Hà Lê Kim Anh cũng nhấn mạnh rằng người học ngôn ngữ sẽ trải qua quá trình: không hiểu – xuất hiện lỗi – sử dụng đúng. Có thể nói, lỗi có vai trò quan trọng trong tất cả các quá trình nghiên cứu, dạy và học ngoại ngữ.
Đối với người học lỗi là một cách thức thể nghiệm những kiến thức mà mình đã học được, để từ đó có thể biến ngoại ngữ đó thành của mình [19;tr. 11] Pit Corder, một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên đưa ra lý thuyết phân tích lỗi cho rằng: Lỗi (error) là sự lệch chuẩn so với ngữ pháp và vi phạm các tắc sử dụng ngôn ngữ và các quy ước văn hóa. Người học không những không nhận ra các lỗi của mình mà còn không thể tự chữa được chúng khi lưu ý. Thậm chí họ còn mắc thêm lỗi khác khi làm việc đó.Lỗi thể hiện dự khiếm khuyết về năng lực giao tiếp của người học trong cách nhìn nhận đánh giá của người bản ngữ và những người song ngữ.Lỗi là nguyên nhân gây ra các hiện tượng trống nghĩa, mơ hồ về nghĩa và là nguyên nhân trực tiếp gây ra những hiểu lầm hoặc ngưng trệ giao tiếp.Sự có mặt của lỗi trong giao tiếp liên ngôn nhiều khi trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột văn hóa.
Ở đây Pit Corder cũng phân biệt hai loại lỗi là “mistake” – lỗi do nhầm lẫn, không có tính hệ thống và “errors” – lỗi xuất hiện lặp đi lặp lại có tính hệ thống do sự tiếp nhận ngôn ngữ đích còn hạn chế. Một số nguyên nhân có thể tạo ra lỗi trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai như sau [19; tr. 34]: - Vượt tuyến: Là chiến lược người học nới rộng những quy tắc ngôn ngữ ra ngoài phạm vi của nó. Hay nói cách khác là đã sử dụng những tri thức đã biết ở ngôn ngữ đích để khám phá ngôn ngữ đích.
18 z - Chuyển di: Là chiến lược người học mượn những tri thức có sẵn trong tiếng mẹ đẻ để khám phá ngôn ngữ đích. - Chiến lược giao tiếp: Người học tìm mọi cách để giao tiếp mặc dù câu nói có sai ngữ pháp. Lỗi có thể xuất phát từ bản thân người học, do người học tự tìm tòi khám phá ngôn ngữ mới hoặc do năng lực không hoàn hảo của người học, tuy nhiên lỗi cũng có thể do quá trình giảng dạy, do kết quả của những tình huống học cụ thể trên lớp dẫn đến những lỗi của người học. Tuy nhiên dù là do người học hay do giảng dạy thì lỗi cũng là một phần tất yếu của quá trình thụ đắc một ngôn ngữ mới.
Trong xu hướng dạy và học ngoại ngữ theo định hướng giao tiếp như hiện nay, thì “lỗi” là một phần tất yếu không thể thiếu được đối với người học, giúp người học đi từ nhận diện đến thích ứng và sử dụng đúng ngôn ngữ thứ hai. Như vậy việc định nghĩa về “lỗi” trong quá trình học ngoại ngữ sẽ giúp người dạy và người học hiểu rõ hơn về lỗi, để từ đó có phương pháp giảng dạy cũng như tiếp nhận “lỗi” một cách đúng đắn hơn và có hiệu quả hơn. Lý thuyết phân tích lỗi Lý thuyết về phân tích lỗi trong việc học một ngôn ngữ thứ hai được Stephen Pit Corder và các đồng nghiệp đưa ra vào những năm 60. Corder cho rằng phân tích lỗi như là một phương pháp khoa học trong ngôn ngữ học.
Như các trích dẫn của Rod Ellis"Cho tới những năm 1970, phân tích lỗi đã trở thành một phần được thừa nhận trong ngôn ngữ học ứng dụng, và sự phát triển phần lớn là do công việc của Corder"[39; tr3]. Trước Corder, các nhà ngôn ngữ học đã nhận ra lỗi của người học, phân chia chúng thành các loại, cố gắng xem những lỗi nào là lỗi phổ biến nhưng không thực sự chú ý nhiều đến vai trò của chúng trong việc giảng dạy và tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai. 19 z Theo Pit Corder, phân tích lỗi là thủ thuật do các nhà nghiên cứu và giáo viên sử dụng. Nó bao gồm việc thu thập các mẫu ngôn ngữ của người học, xác định lỗi các mẫu, miêu tả lỗi, phân loại lỗi và đánh giá mức độ nghiên trọng của lỗi.
Ông cho rằng việc phân tích lỗi không chỉ quan tâm đến mục đích ứng dụng của nó là chữa lỗi mà còn phải quan tâm đến mục đích lý thuyết của nó là giải thích sự thể hiện cơ chế ngôn ngữ của người học, tức là nghiên cứu những chiến lược học và những giả thuyết mà người học đã sử dụng để tạo ra ngôn ngữ của riêng mình. Quá trình phân tích lỗi được Pit Corder chia làm các giai đoạn [38; tr. 8]: - Thu thập mẫu ngôn ngữ của người học: Để có thể phân tích lỗi thì trước hết cần phải thu thập các ngữ liệu của người học. Căn cứ vào ngữ liệu đã thu thập được để tiến hành thống kê và nhận diện lỗi theo hệ thống.
- Nhận diện lỗi: Ở giai đoạn này cần phân biệt giữa lỗi (error) và sai lầm (mistake) của người học. Đầu tiên để nhận diện được lỗi hay sai lầm của người học thì cần kết hợp với việc kiểm tra tính nhất quán của hiệu suất của người học ngôn ngữ thứ hai. Nếu một người học đôi khi sử dụng đúng dạng của một cấu trúc hoặc quy tắc nào đó và sau đó sử dụng sai cấu trúc, thì đó là một sai lầm và có thể tự sửa chữa. Tuy nhiên, nếu người học luôn sử dụng nó sai thành hệ thống, thì đó là một lỗi.
Lỗi xảy ra do sự hạn chế về năng lực ngoại ngữ, người học chưa nắm vững các quy tắc của ngôn ngữ thứ hai và thường sử dụng ngoại ngữ như một bản năng. Người học không phát hiện ta rằng mình đã mắc lỗi và không có khả năng tự sửa lỗi. - Miêu tả lỗi: Giai đoạn này được thực hiện sau bước nhận diện lỗi. Không có mô tả nào có thể được thực hiện mà không xác định lỗi.